Đảng thừa nhận đánh Mỹ là đánh cho TQ

 

xin bấm vào đây để tải xuống : cuốn sách ” SỰ THẬT VỀ MỐI QUAN HỆ VIỆT TRUNG TRONG 30 NĂM QUA ” – nxb SỰ THẬT, Hà Nội

Posted in Uncategorized | 5 phản hồi

Tôi đi thăm chồng “cải tạo”

“Tôi nghĩ rằng sau chiến tranh, Việt Nam không có ngược đãi đối với mọi người. Bởi vì chính sách lúc ấy của nhà nước Việt Nam là chính sách hòa hợp dân tộc. […]Thế còn việc tập trung học tập hay cải tạo, tôi nghĩ đấy là để học cho nó rõ chính sách của nhà nước Việt Nam thời bấy giờ. […] Chứ không có nghĩa là một chế độ tù đày”

https://i0.wp.com/www.radiochantroimoi.com/wp-content/uploads/2015/04/VuQuangHien-300x225-2.jpgTiến sĩ Vũ Quang Hiển, phó giáo sư, sử gia của Đại học Quốc gia Hà Nội .

Tôi đi thăm chồng “cải tạo”

Vâng, chúng tôi nghiễm nhiên nhận chồng chúng tôi là “các ông cải tạo” như người miền Nam vẫn kêu với tấm tình trân quý, để phân biệt với những người tù hình sự. Vâng, những người đàn ông ở miền Nam mà đang đi tù Cộng Sản mới là những người xứng đáng với đàn bà con gái miền Nam ở lứa tuổi tôi. Chị em chúng tôi gọi đó là “tấm bằng tù cải tạo” của các ông để chọn gửi cuộc đời, dù là trao gửi vào một nơi bất định….

Minh Hòa -Virginia
2015-04-29

DSC_0157-001-va-2012-600.jpg

Tác giả Minh Hòa chụp tại Virginia năm 2012 Ảnh do tác giả gửi RFA

Tôi quen anh năm 17 tuổi, khi còn cắp sách đến trường. Lúc ấy anh là sinh viên sĩ quan năm thứ ba, hai mươi tuổi đời, nhưng dạo đó trong mắt tôi anh thật chững chạc, lại tài hoa, và cũng không thiếu… si mê.
Anh nhất định đòi cưới tôi ngay sau khi ra trường, nói rằng Thầy Mẹ anh sẽ ưng ý, không thể phản đối. Tôi hình như có hơi ngạc nhiên và hơi… sợ sợ, vì tuổi 18, 19 thời đó còn nhỏ lắm, chẳng biết gì, chỉ biết rằng tôi hình như cũng… yêu anh nhiều lắm. Tôi còn nhớ, tuy còn nhỏ và ngây thơ lắm, nhưng những ngày giữa năm thứ tư của anh, từng đêm tôi đã thổn thức một mình. Cảm giác lúc ấy là chỉ sợ mất anh vào nơi gió cát mịt mù mà biết bao người trai đã ra đi không hẹn ngày về. Và tôi nhất quyết lấy anh, tuy anh làm phiền lòng Ba Má tôi không ít, khi anh dứt khoát từ chối mọi công lao chạy chọt của song thân tôi ngay từ truớc ngày anh tốt nghiệp. Gia đình tôi ngần ngại, nhưng tôi là con gái út, được cưng nhất nhà, vả lại cả nhà ai cũng quý mến anh…
Thế là tôi rời ghế nhà trường năm 19 tuổi, lên xe hoa mà tưởng như đang trong giấc mộng tình yêu thời con gái. Rồi thì giã từ quê huơng Đà lạt yêu dấu, giã từ những kỷ niệm yêu đương trên từng con dốc, từng vạt nắng xuyên cành trong hơi lạnh thân quen, từng hơi thở thì thầm trong ngàn thông thương mến, tôi theo anh về làm dâu gia đình chồng ở Sài Gòn. Tôi chưa hề được chuẩn bị để làm dâu, làm vợ, đầy sợ hãi trong giang sơn nhà chồng, còn chưa biết ứng xử ra sao, nhưng được cha mẹ và các em chồng hết lòng thương mến.
Các chú em chồng nho nhã luôn luôn hoan hô những món ăn tôi nấu nướng.
Tuần trăng mật thật vội vã nhưng vô cùng hạnh phúc, chỉ vỏn vẹn trong thời gian anh nghỉ phép ra trường, rồi trình diện đơn vị mới. Mùng sáu tết Tân Hợi 1971, Sư đòan Dù của anh đi mặt trận Hạ Lào. Hôm ra đi anh vui tưng bừng như con sáo sổ lồng, trong khi tôi thẫn thờ… Anh siết tôi thật chặt, không cho tôi khóc, nói rằng ra đi trong giòng nước mắt vợ hiền là điều xui rủi.
Tôi vội vã gượng cười, để rồi từng đêm thổn thức một mình trong căn phòng lạnh vắng, run rẩy lắng nghe từng tin chiến sự miền xa. .. Thư anh từ mặt trận toàn những điều thương nhớ ngâp tràn, pha lẫn những lời như những tràng cười say sưa của người tráng sĩ đang tung mình trên lưng ngựa chiến. Mẹ chồng tôi chẳng vui gì hơn tôi. Hai mẹ con buôn bán xong thường đi lễ chùa, khấn nguyện. Bà cụ bảo tôi “phải khấn cho nó bị thương nhẹ để mà về, chứ vô sự thì lại không được về, vẫn còn bị nguy hiểm”… Tôi càng hoang mang, thảng thốt, quỳ mãi trong khói hương với đầy nước mắt, chẵng khấn được câu nào… Má tôi trên Đà lạt cũng vội lặn lội lên tận cốc xa, thỉnh cho được tượng ảnh Bồ Tát Quán thế Âm để chồng tôi về sẽ đeo vào cổ.
IMG_0021s-1971-dalat-400.jpg
Tác giả Minh Hòa chụp cùng chồng năm 1971 tại Dalat.

Sau trận đầu tiên ở Hạ Lào anh trở về với cánh tay trái treo trước ngực. Tôi run run dội nước tắm cho anh để nước khỏi vào vết thương, mà không giấu được nụ cười đầy sung sướng, pha lẫn… đắc thắng, cảm ơn Trời Phật linh thiêng…
Rồi anh lại ra đi. Tây Ninh, Cam Bốt, cùng những địa danh trong các dòng tin chiến sự mà tôi thuộc nằm lòng. Trảng Bàng, Trảng Lớn, Suông, Chúp, Krek, Đam Be… Anh đi toàn những trận ác liệt một mất một còn với quân thù quái ác. Vừa lành vết thương là lại ra đi. Tôi thành người chinh phụ, thao thức từng đêm, vùi đầu vào gối khóc mùi trong lời khấn nguyện Phật Trời che chở cho sinh mạng chồng tôi. Còn anh, anh cứ đi đi về về trong tiếng cười vui sang sảng, hệt như các bạn chiến đấu trong cùng đơn vị, mà nay tôi vẫn còn nhớ tên gần đủ: các anh Tường, Hương, Trung, Dũng, Sinh, Chiêu, anh Sĩ, anh Tâm, anh Quyền….
Mỗi lần trở về bình an là một lần cả nhà mở hội, và mỗi khi nhận lệnh đi hành quân là một lần tôi thờ thẫn u sầu trong lúc anh hăng hái huýt gió vang vang khúc hát lên đường. Con người ấy không biết sợ hãi là gì, không cần sống chết ra sao, và không hề muốn nghe lời than vãn, chỉ thích nụ cười và những lời thương yêu chiều chuộng. Anh nói không biết tại sao anh có niềm tin kỳ lạ là không có việc hiểm nguy nào hại đựơc thân anh. Tôi chỉ còn biết chiều theo ý chồng, không bao giờ dám hé môi làm anh buồn bực, vì thời gian gần nhau quá ngắn ngủi, tôi chỉ lo cho anh những phút giây hạnh phúc hiếm hoi của người lính chiến, không muốn để anh bận lòng vì những nỗi lo âu. Lấy chồng hơn hai năm sau mà tôi vẫn chưa có cháu, vì anh cứ đi, đi mãi đi hoài, những ngày gần nhau không có mấy.
Rồi mùa hè đỏ lửa nổ ra. Anh nhảy vào An Lộc, lăn lóc đánh dập đánh vùi với địch quân đông gấp bội trong gần ba tháng trời, mất cả liên lạc bưu chính, ở nhà không hề nhận một chữ một lời. Người hạ sĩ quan hậu cứ mỗi tháng ghé lại gia đình thăm hỏi đều phải vẫy tay tươi cười ngay từ đầu ngõ. Anh về được đúng một tuần, thì lại lên đường đi Quảng Trị. .. Rồi anh lại bị thương ở cửa ngõ Cổ thành, trở về trong phòng hồi sinh Tổng y viên Cộng Hòa. Trên đướng tới bệnh viện cùng với gia đình, tôi ngất xỉu trên xe của người anh chồng…
Nhưng rồi anh vẫn đứng dậy, lại khoan khoái cất bước hành quân. Ôi, không biết tôi mang nợ anh từ tận tiền kiếp xa xôi nào, mà tôi yêu thương cái con người chỉ biết miệt mài say mê chiến trận. Tôi chỉ biết ước nguyện của anh là trở thành một tướng Patton của Việt Nam, “Rồi nước mình sẽ phải tự chủ hơn lên, mấy năm nữa phải khác hẳn đi chứ. Nền nếp quân đội sẽ phải thay đổi. Anh sẽ làm Tư lệnh đại đơn vị, để anh điều động liên quân chủng, cả thiết giáp, máy bay, đánh giặc như Patton cho mà coi. Cam bốt, Hạ Lào Trung Thượng Lào ăn nhằm gì… Hà hà” Tôi chỉ ậm ừ vì chẳng hiểu gì, khi anh thì thầm bên tai tôi vào một đêm tôi dần thiếp đi trong đôi cánh của hạnh phúc, một lần anh về phép hành quân…
Sinh cháu gái đầu lòng năm 1973 ở Đà Lạt, anh về thăm mẹ con tôi và trường cũ, xong lại bay đi trấn thủ đường ranh giới ngưng chiến ở vùng Tây Nam Huế…
Tháng tư năm 1975, đơn vị anh đóng quân ở Thủ Đức, chuẩn bị tử chiến với quân thù. Chú em chồng là sĩ quan chuyển vận tàu HQ505. Tàu ghé Sài Gòn để chuẩn bị đi công tác Phú Quốc. Chồng tôi bảo cả gia đình, gồm Thầy Mẹ, các chú và cả mẹ con tôi, xuống tàu đi Phú Quốc lánh nạn chiến sự, rồi khi yên sẽ lại trở về. Tôi tưởng anh cũng định ra đi, nhưng anh quắc mắt nói tại sao anh lại phải bỏ đi lúc quân lính của anh vẫn còn chưa nao núng, “bọn nó làm gì thắng nổi khi cả Sư Đoàn Dù đầy đủ bung ra phản công, cho nó ăn một cái Mậu thân nữa thì mới hết chiến tranh, quân Dù đánh giặc một chấp bốn là thường, còn trận cuối này là xong.” Anh hăng say như sắp xung trận, nhưng rồi anh quay lưng lại, run giọng bảo tôi hãy bế con theo xe của ông anh ra bến tàu. Đến nước đó tôi không còn gì sợ hãi, ôm con nhảy xuống, nhất định đòi ở lại. Vợ chồng sống chêt có nhau…
Ba lần toan vượt thoát từ đầu đến giữa tháng 5 đều thất bại não nề. Anh lên đường đi trại tập trung vào tháng 6, khi tôi đang mang bầu cháu thứ nhì… Bé Dung ưỡn người đòi theo bố. Anh quay lại, vẫy tay cười với mẹ con tôi. Vẫn nụ cười ấy, anh vẫn chẳng nệ âu lo sống chết là gì, nhưng còn mẹ con em, anh ơi??? …
Gia đình nhà chồng tôi thiệt có phước, hầu hết đã theo tàu HQ505 đi Phú Quốc rồi sang Mỹ, kể từ hôm tôi ôm con ở lại với chồng. Gia đình tôi từ Đà lạt chạy về Sài Gòn, sống chen chúc quây quần đùm bọc lẫn nhau. Hàng quán của gia đình chồng tôi bị tịch biên hết. Tôi nhất định giữ chặt ngôi nhà của cha mẹ chồng để lại, đuổi mấy cũng không đi. Chị ruột tôi bỏ dấn vốn ra mua được ngôi nhà khác, vì ông chồng ôm vợ bé chạy mất, nhà cửa xe cộ bị tịch biên hết. Tôi và các anh chị em tôi chạy vạy đủ điều để lo sinh kế, nuôi con thơ cha già mẹ yếu. Chồng tôi mịt mù tăm tích, chỉ có đôi ba lá thư viết về từ trại Long Giao. Lên Long Giao cũng không gặp. Anh bị đưa ra Bắc.
Năm đó tôi tròn 25 tuổi, dung nhan tuy tiều tụy nhưng vẫn khiến nhiều kẻ phải suýt soa dòm ngó. Biết bao người mai mối thì thầm bên tai tôi, thôi hãy lo cuộc đời mới, sĩ quan ngụy đi Bắc chẳng có ngày về… Bao nhiêu nỗi khổ đau dồn nén đôt nhiên bùng nổ. Tôi vùng lên như một con cọp cái: bác thử nghĩ coi cả bọn cả lũ tụi nó đó có đáng xách dép cho chồng tôi không!!! Rồi ba mẹ con tôi ôm nhau khóc vùi trong tủi hận.
Không, không, một ngàn vạn lần không. Quanh tôi chỉ còn toàn rác rưởi. Vâng, những người đàn ông ở miền Nam mà đang đi tù Cộng Sản mới là những người xứng đáng với đàn bà con gái miền Nam ở lứa tuổi tôi. Chị em chúng tôi gọi đó là “tấm bằng tù cải tạo” của các ông để chọn gửi cuộc đời, dù là trao gửi vào một nơi bất định…. Còn gì nữa mà chọn lựa! Thà vậy, đành thôi. Tôi đã là vợ anh, tôi vẫn tôn thờ anh trong tim óc, làm sao khỏi lợm giọng trước bọn người lường lọc, bướm ong, hèn hạ … Chị em tôi buôn bán từ thuốc lá đến bánh cuốn, bánh ướt, bánh mì, thuốc tây, thuốc nam, kiêm luôn cắt chải gội uốn tóc, làm móng tay … nhưng luôn tránh chỗ công quyền và nơi phồn hoa nhan nhản những con mắt hau háu của bọn ăn cướp và bọn trở cờ. Mấy anh chị em tôi đồng lòng, đùm bọc lẫn nhau, nên áo rách nhưng một tấm lòng son tôi vẫn vẹn với câu thề…
Vượt qua được thời gian khó khăn cực khổ nhất lúc ban đầu, sau ba mẹ con tôi được gia đình chồng từ Mỹ chu cấp, tuy không dư dả nhưng cũng đủ gửi quà ba tháng một lần, rồi lại dành dụm cho môt chuyến thăm nuôi….
Anh từ miền cực bắc bị đưa về Thanh Hóa chừng một năm, thì tôi xin được giấy phép đi thăm nuôi. Tôi và chị tôi chạy đôn chạy đáo mua đủ một trăm năm chục ký quà để tôi đem ra Bắc cho chồng. Bà cụ buôn bán quen ngoài chợ lại nhờ đem thêm năm chục ký thăm dùm con trai, vì con dâu cụ đã vượt biên. Cháu Dung đã lên 6, em Long nó 4 tuổi và chưa lần nào thấy được mặt cha. Tôi đem cả hai con đi cho anh gặp đứa con trai.
Xuống ga Thanh Hóa, cả đoàn quân khuân vác vây quanh gọi mời giục giã. Tôi và mấy chị cùng thăm chồng chia nhau giữ chặt hàng hóa không cho ai khiêng vác, rồi tự mình kéo lê kéo lết đi thuê nhà trọ. Có người đã đi về kể rằng cứ sơ ý là bị vác hàng chạy mất. Chúng tôi cũng phải chia nhau ở lại nhà trọ coi chừng hàng và đi chợ. Tôi nhờ một chị mua thêm được ký mỡ, về rang tóp mỡ ngoài sân nhà trọ. Nghe con khóc, tôi vội vã chạy vô nhà. Chưa kịp dỗ con thì nghe tiếng ồn ào. Quay ra, hai kẻ cắp đã bưng chảo tóp mỡ ù té chạy, chị bạn rượt theo không kịp. Tôi khóc thầm tiếc hoài, cứ nghĩ những tóp mỡ kia đáng lẽ đã giúp chồng mình đỡ bao đói khát.
Xe đò đi Thanh Cẩm chật ních những bà thăm chồng. Chúng tôi năm người lớn và hai cháu xuống ngã ba Nam Phát để vô Trại 5. Tôi lê từng bao hàng rồi lại quay lui kéo lê bao khác, chừng hơn nửa cây số mới đến trạm xét giấy tờ vào trại, hai cháu còn quá nhỏ chẳng muốn chúng đụng tay . Cô Út thiệt giỏi, xong phần mình lại xông xáo giúp hết người nọ tới người kia.
Xong giấy tờ, chờ một lát thì một người tù hình sự đánh xe trâu đến. Hàng hóa và hai con tôi được lên xe trâu, tôi và chị Phước, chị Điệp cùng hai mẹ con cô Út lẽo đẽo theo sau. Đường đi xuyên trại xuyên rừng dài tám cây số. Chúng tôi chưa biết lúc trở ra mới càng thê thảm.
Chân tay rã rời, tới chiều tối mới thấy cổng trại 5 Lam Sơn. Đêm xuống bé Dung còn phải phụ tôi gom lá mía cho tôi vội nấu hết gạo thành cơm, nắm lại từng vắt, vì nghe nói công an không cho tù chính trị đem gạo sống vô, sợ các anh âm mưu trốn trại. Đêm chờ sáng để thăm chồng, nhìn hai con thơ ngây ngủ say sưa vì mỏi mệt, tôi rời rã vô cùng nhưng không sao ngủ được. Hằng trăm hình ảnh chồng tôi nhảy múa trong đầu… Chồng của tôi, người lính dù hăng hái húyt sáo mỗi khi nhận lệnh hành quân ấy, nay đã ra sao???
Sáng, đến lượt ra nhà thăm nuôi ngong ngóng chờ chồng, tôi không được phép ra khỏi cửa căn buồng nhỏ xíu, kê một bàn gỗ dài và hai ghế băng dọc hai bên. Đột nhiên một ông lạ hoắc đứng lù lù ngay cửa. Tôi ngỡ ngàng chưa biết điều gì. Cô nữ công an nhìn chòng chọc, hằn học, đợi chờ như con gà chọi sắp tung đòn. Tôi không thể hiểu người con gái Bắc cỡ cùng tuổi tôi kia thù hằn tôi điều gì. Tôi ngó lại, lát sau cô ta coi sổ xong, mới nói đây là anh Đức mà bà cụ nhờ tôi đi thăm dùm. Mất nửa tiếng giao quà và kể chuyện gia đình cho anh Đức nghe, tôi được biết chỉ còn một tiếng rưỡi gặp chồng. Thế là tôi bắt đầu ôm mặt khóc, càng lúc càng nức nở vì tủi cực, không thể nào cầm được. Trên thế giới này có ai phải lặn lội hằng ngàn cây số để chỉ được gặp chồng có một giờ ba mưới phút không hả Trời?!!
Hai cô công an lớn tiếng dọa dẫm, những là phải động viên học tập tốt, không lau sạch nước mắt thì không cho ra thăm… Nhưng kìa, ai như chồng tôi vừa bước ra khỏi cổng trại. Tôi không còn nhớ quy định luật lệ gì nữa, vùng đứng dậy chạy nhào ra như một tia chớp. Hai đứa nhỏ vừa khóc vừa chạy theo. Hai công an nữ bị bất ngờ không cản kịp, đứng nhìn.
Tôi chạy tới ôm anh, và càng khóc dữ, đôi chân khụyu xuống, không còn sức lực. Trời ơi, chồng tôi ốm yếu đến nỗi tôi ôm không trọn một vòng tay. Người anh nhỏ thó hẳn lại, chỉ có đôi mắt sáng với tia nhìn ngay thẳng là vẫn hệt như ngày nào, nhưng nay đượm nét u buồn khiên tôi đứt ruột. Anh vẫn không nói được lời nào, chỉ bặm môi nhìn tôi nhìn con thăm thẳm. Tôi biết anh đang cố trấn tĩnh, vì không muốn rơi nước mắt trước mặt công an. Anh dìu tôi và dắt con trở vào nhà thăm nuôi. Anh nắm chặt tay tôi, đưa vào chiếc ghế băng. Cô công an lạnh lùng chỉ anh bước sang chiếc ghế đối diện, rồi ngồi sừng sững ở đầu bàn, cứ chăm chăm nhìn vào sát tận mặt tôi. Anh khuyên tôi ở nhà ráng nuôi dạy con cho giỏi. Rồi thật nghiêm trang, anh bảo tôi phải đưa con đi vùng kinh tế mới, về tỉnh Mỹ Tho chỗ bác Chánh với chú Cương và cô Huyền đã tự nguyện đi khai hoang rồi, đang chờ vợ chồng mình lên lao động sản xuất. Tôi hơi sững sờ, rồi chợt hiểu, đang khóc lại suýt bật cười hân hoan, khi thấy nét khôi hài tinh anh của chồng tôi vẫn còn nguyên vẹn. Bác Chánh là tên gọi của Thầy Mẹ chúng tôi, chú Cương và cô Huyền chính là chú Cường, chú em chồng đã đưa cả nhà xuống tàu HQ 505 đi lánh nạn. Cô công an có vẻ rất đắc ý, nhắc tôi:
– Chị phải nói gì động viên anh ý đi chứ.
Anh nhìn mắt tôi, cười thành tiếng. Tôi chợt cười, nhưng lại chợt giận hờn.
Tôi cúi mặt giận dỗi:
– Em không đi đâu hết, em chờ anh về đã rồi muốn đi đâu cũng được …
Tôi lại khóc, hai tay nắm
diane-n-family
‘Bé Dung’ với chồng và hai con, 08-2014

chặt tay anh, chỉ sợ phải xa rời. Cô công an cứ quay nhìn hết người nọ đến người kia, lên tiếng: – Chị này hay nhỉ! Phải đi kinh tế mới, lao đông tốt thì anh ấy mới chóng được khoan hồng chứ! Trại giáo dục anh ý tiến bộ thế đấy, còn chị thì cứ…. Chỉ được cái khóc là giỏi thôi!!
Anh không nhịn được, lại cười khanh khách và nói:
– Đó em thấy chưa, cán bộ ở đây ai cũng tiến bộ như vậy hết, em phải nghe anh mới được… Em cứ thấy anh bây giờ thì biết chính sách Nhà nước ra sao, cũng đừng lo gì hết, ráng nuôi dạy con cho nên người đàng hoàng đừng học theo cái xấu, nghe…
Tôi dở khóc dở cười, chỉ nắm chặt tay anh mà tấm tức, dỗi hờn. Anh gọi hai con chạy sang ngồi hai bên lòng. Cô nữ công an do dự, rồi để yên, lại tiếp tục nhìn sững vào mặt tôi. Anh ôm hôn hai cháu, nói chuyện với hai cháu. Đôi mắt chúng tôi chẳng nỡ rời nhau. Mắt tôi nhòa lệ mà vẫn đọc được trong mắt anh những lời buồn thương da diết. Tội nghiệp hai con tôi đâu biết chỉ được gần cha trong giây lát nữa thôi.
Tôi như một cái máy, vừa khóc vừa lay lay bàn tay anh, nhắc đi nhắc lại, em sẽ đợi anh về, anh đừng lo nghĩ gì nghe, em sẽ đợi anh về, em nhất định đợi anh mà.. anh về rồi mình cùng đi kinh tế mới… anh ráng giữ gìn sức khỏe cho em và con nghe… Em thề em sẽ đợi anh về…. Em không sao đâu… Anh đừng lo nghĩ, cứ yên tâm giữ gìn sức khỏe nghe, em thề mà, anh nghe…
Tôi chợt thấy chồng tôi nhòa nuớc mắt. Cô công an lúng túng đứng dậy, bỏ ra ngoài nhưng lại trở vào ngay, gõ bàn ra hiệu cho người ở ngoài. Người nữ công an kia chẳng biết núp ở đâu, lập tức xuất hiện, báo hết giờ thăm… Vợ chồng tôi lại ôm chặt nhau ở đầu bàn bên kia ngay trước cửa phòng, bất chấp tiếng gõ bàn thúc giục. Anh nắm chặt hai bàn tay tôi, chỉ nói được một câu:
-Anh sẽ về đưa em và con đi, không thể quá lâu đâu, đừng lo nghe, cám ơn em … đã quyết đợi anh về… Rồi anh nghẹn ngào…
Tôi bị ngăn lại ngay cửa nhà thăm nuôi, cháu Dung chạy ù theo cha, cu Bi nhút nhát đứng ôm chân mẹ cùng khóc . Tôi ôm cây cột gỗ nhìn dáng anh chậm chạp buớc tới hai cánh cổng gỗ to sầm, mà không thể nào ngưng tiếng khóc.
Anh ngoái đầu nhìn lại hoài, bước chân lảo đảo, chiếc xe cút kít một bánh mấy lần chao nghiêng vì hàng quá nặng…
Sáng hôm sau tôi như người mất hồn. Các chị bạn cũng chẳng hơn gì . Mấy chị em và bà bác dắt díu nhau ra, mới biết không được về lối cũ, mà phải đi vòng bên ngoài trại cả gần hai chục cây số nữa để trở lại chỗ ngã ba Nam Phát.
Đường xuyên rừng, rồi lại ra đồng trống, nắng hanh chang chang như muốn quật ngã ba mẹ con tôi. Cu Bi mệt lắm, có lúc ngồi bệt xuống, áo quần mồ hôi ướt nhẹp. Tôi phải đứng giữa nắng đem thân mình che nắng cho hai con, dỗ dành chúng, rồi lại bế cu Bi, lầm lũi bước thấp bước cao. Bà bác và hai chị cùng cô Út cứ phải đi chậm lại chờ mẹ con tôi. Bao nhiêu cơm gạo đã giao cho chồng hết, chúng tôi không còn gì ăn uống. Dọc dường mua được mấy cây mía, tôi róc cho các con ăn cho đỡ đói. Hai đứa không khóc lóc một lời. Bé Dung thiệt ngoan, luôn miệng dỗ em cố gắng. Bụng đói, chân mỏi rã rời trong lúc chiều cứ xuống dần. Đám người lang thang trong những cánh rừng tre nứa âm u, trên miền đất không một chút tình thương. Ai cũng lo sợ, dớn dác nhìn trước ngó sau, tự nhiên túm tụm lại mà đi, càng mệt lại càng như muốn chạy. Tôi bế cu Bi, mỏi tay quá lại xoay ra cõng cháu, vừa mệt vừa đói vừa sợ, lếch thếch vừa đi vừa chạy, không biết sẽ ngã gục lúc nào. Cháu Bi nhìn thấy mẹ mệt quá, đòi tuột xuống, rồi lại hăng hái tiến bước. May sao, đến hơn 6 giờ chiều, trời gần tối hẳn, thì trở lại được ngã ba Nam Phát. Hai công an dắt xe ra đạp về nhà, dặn chúng tôi ở đó đón xe đò ra Thanh Hóa.
Đám người ngồi bệt xuống bên đường. Lâu lắm mới có một xe chất đầy người chạy qua, nhưng đều chạy thẳng, không ngừng. Đã hơn chín giờ đêm. Dáng cô Út cao mảnh rắn chắc đứng vẫy xe in lên nền trời đêm đầy sao như một pho tượng thần Vệ Nữ. Một xe lớn có hai bộ đội chở đầy tre nứa, từ xa chiếu đèn pha sáng lòa trên dáng người con gái đảm đang ấy, từ từ dừng lại. Chúng tôi xúm lại hứa trả thật nhiều tiền, rồi bà bác cùng hai con tôi được lên ngồi ca bin, còn tôi với hai chị và cô Út đẩy kéo nhau leo lên ngồi nghiêng ngả trên tre nứa, tay bám, chân đạp chặt vô thành xe, qua năm tiếng đồng hồ trên con đường đất dằn xóc kinh hồn, nhiều lần tưởng đã văng xuống đất. Hai bộ đội tử tế, không lấy tiền, chỉ ăn hai tô cháo lòng mà chúng tôi mời mãi. Ra đến Thanh hóa là hai giờ sáng. Các chị đi thăm chồng xuống tàu đêm thật đông, thăm hỏi tíu tít, trả lời không kịp. Khi ấy sao mà chị em chúng tôi thương nhau quá sức.
Vé về Nam không có, phải mua vé ra Hà Nội rồi mới đi ngược trở về. Đêm hôm sau mới đến ga Hàng Cỏ, mấy bà con ra đường đang ngơ ngác thì các chị đằng xa đã đôn đáo vẫy chào, kéo chúng tôi tới chỗ… lề đường, đầy những chiếu với tấm ni lông, nơi tạm trú mà các bà “vợ tù cải tạo” gọi là… Hotel California.
Vâng, chúng tôi nghiễm nhiên nhận chồng chúng tôi là “các ông cải tạo” như người miền Nam vẫn kêu với tấm tình trân quý, để phân biệt với những người tù hình sự. Cho nên danh từ thường đi theo với ý nghĩa nào mà người ta hiểu với nhau, không còn giữ được nguyên cái nghĩa mà nó được đặt cho vì mục đích chính trị sâu xa.
family-pic
‘Cu Bi’ và cha mẹ, ngày cưới vợ, 04-2009

Ngủ lề đường nhưng chẳng ai thấy khổ, vì gần nhau thấy ấm hẳn tình người đồng cảnh. Các chị em thì thầm trò chuyện suốt đêm, kẻ thì khóc rấm rứt, người lại cười khúc khích. Tôi vừa ôm con ngủ gật vừa quạt muỗi cho hai cháu, hình ảnh chồng tôi quay cuồng mãi trong đầu, khi anh nói, khi anh cười, lúc anh đầy nước mắt… Sau những nguồn cơn cực nhọc và xúc động mạnh này, về nhà tôi bị thương hàn nhập lý, rụng hết mái tóc dài, gần trọc cả đầu, tôi đã trối trăn cho bà chị nuôi dạy hai cháu, tưởng không còn được thấy mặt chồng tôi lần nữa…
…Chín năm sau, đúng ngày giỗ đầu Ba tôi, anh đột ngột bước vô nhà. Tôi suýt té xỉu vì vui mừng, cứ ôm chặt anh mà.. khóc ngất. Anh cười sang sảng:
– Cái chị này chỉ được cái khóc là giỏi thôi, phải động viên cho chồng đi sang Mỹ đi chứ … Hà hà..
Các chị em tôi từ Đà Lạt tất bật xuống thăm. Vừa xong ngày đám giỗ thì cả nhà đã vui như hội. Tất nhiên tôi là người mừng vui nhất….
Hạnh phúc đã trở về trong vòng tay tôi. Tôi sẽ ôm thật chặt lấy nguồn hạnh phúc này, không bao giờ để cho đi đâu xa mất nữa…

http://www.rfa.org/vietnamese/SpecialTopic/40years-april30/visit-my-husband-re-education-mk-04292015122056.html

fpc.pl?ywarid=515FB27823A7407E&a=10001310322279&js=no&resp=img__,_._,___

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

Không nhân quyền, không TPP!

Phạm Chí Dũng

Vẫn chỉ “mong muốn sớm kết thúc”
Rất nhanh, thời gian đã trôi đến gần giữa năm 2015. Song thân phận TPP cho Việt Nam vẫn hầu như chưa có gì gọi là cải số.
Ngày 22 Tháng Tư, nghĩa là sát thời điểm kỷ niệm “40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, một cuộc tiếp xúc về đề tài đáng thất vọng trên đã diễn ra tại Hà Nội giữa ông Michael Froman, đại diện Thương Mại Hoa Kỳ, và Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Trước đây, ông Dũng cũng đã gặp ông Froman vài lần tại New York và Hà Nội với đề nghị “linh hoạt” để Việt Nam nhận được quy chế thị trường đầy đủ.
Vào lần này, âm giọng của ông Dũng vẫn không có gì thay đổi so với những lần gặp trước: “Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng nhắc lại đề nghị của chính phủ Việt Nam trong cuộc gặp giữa thủ tướng và Tổng Thống Barack Obama mới đây là mong muốn trong quá trình đàm phán TPP, Hoa Kỳ chia sẻ với một thực tế là nền kinh tế Việt Nam đang phát triển ở trình độ thấp và đang trong quá trình chuyển đổi nhằm vừa bảo đảm có một hiệp định cân bằng lợi ích, vừa có các linh hoạt cần thiết, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam”.
Rõ là chính giới ít học của Việt Nam vẫn còn xa mới hiểu được người Mỹ. Kết thúc cuộc gặp trên là chi tiết đáng thất vọng nhất: “Ông Michael Froman bày tỏ hy vọng và tin tưởng hai bên sẽ sớm kết thúc đàm phán TPP”.
Khác với lần gặp gần nhất của giới đại diện thương mại Mỹ tại Việt Nam với lời hứa hẹn “sẽ thông qua trong nửa đầu năm 2015”, lần này đã không có bất kỳ manh mối về thời điểm nào được hé lộ.
Nguyên do rất cơ bản của tình trạng quá trễ muộn trên là theo một nguồn tin đáng tin cậy từ Hoa Kỳ, cho tới nay Việt Nam chưa đáp ứng bất kỳ tiêu chí nào để trở thành “nền kinh tế thị trường đầy đủ”.
Rào cản kép
Về nguyên tắc, để được công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ, Việt Nam phải tuân thủ năm tiêu chí do EU và Mỹ đòi hỏi: Phải hết sức minh bạch; Tuân thủ nhà nước pháp quyền, quy định pháp luật đã đề ra; Tiền tệ ổn định; Đối xử công bằng với doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài. Đặc biệt, Việt Nam phải bảo đảm không có tình trạng chi tiền một cách không chính thức hay mập mờ.
Song hậu quả gần như không thể trốn tránh là tất cả những gì cần phải minh bạch lại bị giới quan chức đàm phán Việt Nam diễn giải một cách mơ hồ, mập mờ hoặc giấu biệt. Bằng chứng hiển nhiên nhất là từ trưởng đoàn đàm phán Trần Quốc Khánh cho đến cố vấn cao cấp của đoàn Việt Nam – nguyên Bộ Trưởng Thương Mại Trương Đình Tuyển – đều chưa bao giờ công bố với báo chí về một thành tích nào của chính phủ Việt Nam cho bất kỳ tiêu chí nào để đạt “quy chế thị trường đầy đủ”, cho dù cũng chưa bao giờ họ đánh mất vẻ lạc quan cố ý trên gương mặt trả lời phỏng vấn.
Trong khi viễn cảnh TPP dành cho Việt Nam vẫn mịt mù sương khói, quyền đàm phán nhanh TPP (TPA) dành cho tổng thống Mỹ lại đang bị AFL-CIO, công đoàn lớn nhất ở Mỹ, phản ứng khá quyết liệt, cho dù Thượng Viện nước này vừa đưa ra khả năng sẽ cho phép ông Obama có được TPA.
TPA được hiểu là định chế thúc ép các thượng nghị sĩ bỏ phiếu hoặc là thông qua hoặc là bác bỏ hiệp định, chứ không thể đề nghị các sửa đổi. Một ngày trước cuộc gặp giữa ông Froman và ông Dũng ở Hà Nội, chủ tịch AFL-CIO đã kêu gọi Quốc Hội Mỹ không trao quyền mở rộng cho Tổng Thống Barack Obama để thương lượng các hiệp định tự do mậu dịch, đặc biệt hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP.
Ông Richard Trumka, chủ tịch AFL-CIO, đã đưa ra lời kêu gọi như trên khi ra điều trần trước Thượng Viện Mỹ: “Từ quá lâu rồi, các quyết định thương mại vẫn được đưa ra trong vòng bí mật. Sự bí mật chỉ nhằm phục vụ cho quyền lợi chính trị và kinh tế của thành phần lãnh đạo, chứ không phải là cho quyền lợi của thành phần trung lưu tại Mỹ”.
Có khá nhiều và thậm chí còn đầy đủ lý do để giới chức đảng lẫn chính phủ Việt Nam đủ cảm thấy mệt mỏi trên con đường đeo đuổi hiệp định TPP từ năm 2006 đến nay. Sự thật có thể mô tả là nếu không vì nền kinh tế đang chìm trong thế khốn quẫn mà có thể gây ra vô số phản ứng xã hội đe dọa “sự tồn vong của đảng,” hầu như chắc chắn chẳng có lãnh đạo cao cấp nào của Việt Nam mong ngóng đến một hiệp định thương mại mà khác hẳn với quy chế WTO, sẽ khó mà đoán định được lợi ích dành cho cá nhân và các tập đoàn gia đình của họ là ra sao.
Trong khi đó, ngay trước mắt lại đang tiến gần một bất lợi khác cho Việt Nam: vào đầu Tháng Năm sẽ diễn ra cuộc đối thoại nhân quyền Mỹ-Việt tại Hà Nội. Tuy nhiên, cho tới nay, chính quyền Việt Nam vẫn hầu như chưa đáp ứng điều kiện cơ bản nào do Mỹ đòi hỏi, cho dù Hà Nội thừa biết nhân quyền là trở ngại lớn nhất khiến Việt Nam chưa thể vào được TPP.
“Không nhân quyền, không TPP”
Chỉ một tù nhân lương tâm – tín đồ Hòa Hảo thuần túy Mai Thị Dung – được phóng thích vào giữa Tháng Tư là quá ít ỏi nếu so sánh với danh sách dài thườn thượt tù nhân chính trị mà Hà Nội đang giam cầm, thậm chí chỉ đáp ứng một phần nhỏ danh sách đòi trả tự do mà phía Hoa Kỳ mạn phép đưa ra.
Bước vào thời điểm gần giữa năm 2015, những thành viên có thẩm quyền trong chính giới Hoa Kỳ có lẽ hoàn toàn hiểu rằng bối cảnh này là khác xa với thời gian cùng kỳ vào những năm 2012-2013 trở về trước. Từ giữa năm 2014, phong trào kiên định “không nhân quyền, không TPP” đã dội lên trong cả hai viện thuộc Quốc hội Mỹ, lôi kéo đến ít nhất 2/3 số thượng nghị sĩ Mỹ tham gia hưởng ứng. Chỉ ít lâu sau sự xuất hiện của phong trào này, thái độ của chính phủ Obama đối với Việt Nam đã thay đổi đáng kể: Từ nhân nhượng và mềm dẻo đã chuyển sang cứng rắn và yêu sách hơn khá nhiều.
Những tin tức mới nhất từ Mỹ, chứ không phải Việt Nam, càng khiến cho vở diễn TPP đậm màu bi kịch: Với việc hình thành nghiệp đoàn lao động độc lập là điều kiện tiên quyết mà Hoa Kỳ đòi hỏi chính quyền Việt Nam, và nếu phía Việt Nam không muốn thỏa mãn điều kiện này cùng cơ chế cởi nới hơn về quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận và tự do báo chí, thậm chí ngay cả khi tổng thống Mỹ được quốc hội nước này trao cho quyền đàm phán nhanh, Quốc hội Hoa Kỳ vẫn có thể “gác” lại trường hợp Việt Nam khi xem xét nội dung đàm phán Mỹ-Việt đã thỏa thuận về TPP.
Tức người Mỹ vẫn có thể thỏa thuận TPP với các quốc gia khác mà không có Việt Nam. Hoặc TPP vẫn có thể được thông qua chính thức với một ghế dự bị dành cho quốc gia cứng đầu về thành tích cải thiện nhân quyền.
Chuyến công du được tung hô
Tuy nhiên, vật trao đổi song phương ngay trước mắt không chỉ là TPP. Một chuyến công du Hoa Kỳ của người đứng đầu đảng, ông Nguyễn Phú Trọng, trước khi ông mãn nhiệm sẽ có giá trị lớn về mặt tinh thần cá nhân và phe đảng trị.
Chuyến đi dự kiến này đã được giới chức ngoại giao Việt Nam ra sức vận động từ đầu năm 2014 và gần đây còn được chính Bộ Trưởng Công An Trần Đại Quang “chuẩn bị” một cách chu đáo trong chuyến tiền trạm của ông Quang đến Washington, DC, vào giữa Tháng Ba.
Thế nhưng vẫn nên để trống một giả thiết: Nếu chuyến công du Hoa Kỳ của ông trọng không diễn ra như đề xuất từ phía Việt Nam thì sao?
Không khí từ Washington, DC, vào thời gian này dường như đang phản chiếu sắc thái không được tươi tắn lắm của người Mỹ nếu tiếp đón ông Trọng. Thậm chí còn có những thông tin cho biết có thể sẽ không xảy ra cuộc thù tiếp nào của Tổng Thống Barak Obama dành cho người không phải là nguyên thủ Việt Nam.
Sự kiện ấn tượng nhưng cũng có thể việt vị không kém là vào Tháng Ba, giới tuyên giáo đảng đã sôi nổi tung hô cùng rộng rãi loan báo cho giới truyền thông nhà nước về chuyến đi Mỹ của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, thậm chí còn kiêu ngạo đến mức “Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng chọn đi Trung Quốc hay đi Mỹ trước”?
Kết quả là ông Trọng đã đi Bắc Kinh “chào” Tập Cận Bình trước. Còn chuyện đi Mỹ vẫn được mặc định bởi giới tuyên giáo và ngoại giao sốt sắng như sự đã rồi. Tình hình như thế dẫn đến một hệ quả rất khó tránh: Nếu chuyến đi này không diễn ra, hoặc diễn ra không đúng ý đồ của giới lãnh đạo Việt Nam, “uy tín trên trường quốc tế” của Việt Nam sẽ mang tai tiếng đến thế nào. Và cả vai trò của tổng bí thư lẫn người kế vị do ông giới thiệu nữa.
Cũng bởi phương trình ngang dọc ẩn số như thế, cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ vào đầu Tháng Năm đang trở nên một sự kiện đặc biệt, có khả năng đóng vai trò cái chốt đóng – mở đối với việc ông Trọng có đi Mỹ hay không, và nếu đi sẽ được tiếp đón ra sao.
P.C.D
Nguồn:http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=206727&zoneid=97#.VUejF_Cg1o8

fpc.pl?ywarid=515FB27823A7407E&a=10001310322279&js=no&resp=img__,_._,___

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

30-4 ngày quốc hận

http://www.tinparis.net/tinparis15/2015_05_05_VideoDemKhongNguBieuTinhSuqaunCSVNParis_CDNVQGPhap.html

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

▶ Quận Tây Hồ dùng đầu trâu & máu tươi hô thần nhập tượng Hồ Chí Minh – YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=j7VXAIRbBSE

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận