Đảng thừa nhận đánh Mỹ là đánh cho TQ

 

xin bấm vào đây để tải xuống : cuốn sách ” SỰ THẬT VỀ MỐI QUAN HỆ VIỆT TRUNG TRONG 30 NĂM QUA ” – nxb SỰ THẬT, Hà Nội

Posted in Uncategorized | 4 phản hồi

Người Uighur kêu gọi LHQ điều tra VN


Ông Dilshat Rashit kêu gọi Liên Hiệp Quốc điều tra Việt Nam
Hội Người Uighur Thế giới kêu gọi Liên Hiệp Quốc điều tra Việt Nam về vụ đổ máu ở cửa khẩu Bắc Phong Sinh, tỉnh Quảng Ninh.
Ông Dilshat Rashit, phát ngôn viên của hội có trụ sở tại Đức nói với BBC tiếng Trung chiều 22/4:
“Chúng tôi khẩn thiết đề nghị Liên Hiệp Quốc hành động của chính quyền Việt Nam, vốn làm chết người Uighur, xem liệu họ có vi phạm Công ước Liên Hiệp quốc về Người Tị nạn hay không.”
Điều 31 của Công ước được gần 150 nước phê chuẩn cấm các nước thành viên trừng phạt những người vào nước họ từ nơi tính mạng hay sự tự do của họ bị đe dọa với điều kiện người nhập cư trái phép phải trình diện chính quyền và chứng minh được họ có lý do chính đáng để vượt biên.
Tuy nhiên Việt Nam chưa phải là thành viên của công ước có hiệu lực từ năm 1954 này.
Trong vụ người Uighur bị cho là cướp và nổ súng ở cửa khẩu Bắc Phong Sinh, hai lính biên phòng Việt Nam thiệt mạng.
Năm người Uighur cũng tử vong, ba người nhảy từ trên tầng ba xuống “tự tử” và hai người bị “bắn chết”, theo lời Đại tá Lê Tiến Thanh, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng Việt Nam nói với VTV hôm 18/4.

“Khi đã hoàn chỉnh thủ tục hồ sơ thì bạn [công an
Trung Quốc] sang tiếp nhận để chuẩn bị ký vào hồ sơ thì bất ngờ vùng dậy, có hành động cướp súng của chiến sỹ biên phòng làm nhiệm vụ và đập vỡ ghế lấy chân để chống đối lại lực lượng công vụ và chúng đã cướp được một súng của biên phòng và dùng súng đó bắn lại lực lượng chức năng tại cửa khẩu.”

Chỉ huy Biên phòng Quảng Ninh, Đại tá Lê Tiến Thanh

Về nội tình vụ cướp và nổ súng, ông Thanh nói:
“Khi đã hoàn chỉnh thủ tục hồ sơ thì bạn [công an Trung Quốc] sang tiếp nhận để chuẩn bị ký vào hồ sơ thì bất ngờ vùng dậy, có hành động cướp súng của chiến sỹ biên phòng làm nhiệm vụ và đập vỡ ghế lấy chân để chống đối lại lực lượng công vụ và chúng đã cướp được một súng của biên phòng và dùng súng đó bắn lại lực lượng chức năng tại cửa khẩu.”
Trong khi đó phát ngôn viên Dilshat của Hội người Uighur Thế giới nói nhóm 16 người Uighur, trong đó có bốn phụ nữ và hai trẻ em, muốn được gặp các quan chức Liên Hiệp Quốc.
Tuy nhiên phía Việt Nam hoặc không hiểu hoặc hiểu nhưng không đáp ứng.
Ông nói nhóm người Uighur đã chống cự khi thấy cảnh sát Trung Quốc xuất hiện ở Bắc Phong Sinh và dẫn tới vụ đổ máu.
Trang Facebook của Hội Người Uighur Thế giới cũng dẫn lại lời một blogger của Việt Nam, người đặt câu hỏi ai đã cho phép cảnh sát Trung Quốc mang theo vũ khí vào Bắc Phong Sinh và tại sao phải mất ba tiếng người ta mới có thể khống chế được nhóm người Uighur vốn chỉ có một khẩu súng và “không quá năm viên đạn”.
Không cấp hộ chiếu
Phát ngôn viên này nói hiện Hội Uighur Thế giới cũng không thể xác định được tung tích của nhóm người bị Việt Nam trả về và nói thêm.
“Sau sự cố này, cảnh sát địa phương [Trung Quốc] đã có đợt trấn áp người Uighur và bắt một số người cũng như tăng cường giám sát.”
Chỉ trong những ngày cuối tuần trước đã có 37 người bị bắt khi toan vào Việt Nam và 15 người bị bắt ở biên giới Thái Lan/Campuchia.
Cả Thái Lan và Việt Nam đều không phải là thành viên của Công ước Liên Hiệp Quốc về Người Tị nạn trong khi Campuchia đã phê chuẩn công ước này hồi năm 1992.
Một phóng viên của BBC tiếng Trung cũng nói một trong những lý do người Uighur chọn qua Việt Nam là vì họ không cần hộ chiếu mà vẫn có thể qua lại biên giới.
Chính quyền Trung Quốc bị cáo buộc không cấp hộ chiếu cho người Uighur để họ có thể ra nước ngoài hợp pháp.
Nguồn:
Người Uighur kêu gọi LHQ điều tra VN – BBC Vietnamese – Việt Nam

http://a.disquscdn.com/uploads/mediaembed/images/964/5751/original.jpg
anh-xac-trung-quoc-180414.jpg
https://fbcdn-sphotos-e-a.akamaihd.net/hphotos-ak-prn2/t1.0-9/10258509_10201214003425604_5104650560210668106_n.jpg
http://a.disquscdn.com/uploads/mediaembed/images/964/5730/original.jpg

image Người Uighur kêu gọi LHQ điều tra VN – BBC Vietname…Hội Người Uighur Thế giới kêu gọi Liên Hiệp Quốc điều tra Việt Nam về vụ đổ máu ở Quảng Ninh.
View on www.bbc.co.uk Preview by Yahoo

__,_._,___

Posted in Uncategorized | Để lại phản hồi

Sởi gây tử vong nặng nề ở Việt Nam : Trách nh iệm của Bộ Y tế ?

Thứ tư 23 Tháng Tư 2014

Nghe (16:59)
Thêm vào danh mục của tôi
Tải về
Embed

DR

Trọng Thành – RFI

image Trọng Thành – RFI
View on www.viet.rfi.fr Preview by Yahoo

Sởi – căn bệnh được coi là nằm trong tầm khống chế tại Việt Nam – đột ngột trở lại gây tử vong « bất ngờ ». Theo con số chính thức, hơn 100 trẻ chết vì sởi từ đầu năm. Dư luận bất bình với phản ứng chậm, thái độ thiếu minh bạch và độc quyền thông tin của Bộ Y tế Việt Nam. Một số luật sư, bác sĩ cho rằng có cơ sở để khởi kiện các lãnh đạo Bộ Y tế.

Theo thông tin của Bộ Y tế hôm qua 22/04/2014, được báo chí trong nước đăng tải, từ đầu năm đến nay, có hơn 3.000 trường hợp mắc sởi trong số gần 10.000 trường hợp « sốt phát ban dạng sởi », trong đó có 25 trường hợp tử vong do sởi, trong số 119 bệnh nhân tử vong có liên quan đến sởi. Hai điểm nóng của dịch là TP Hồ Chí Minh (không có ca tử vong) và nhất là Hà Nội (gần một nửa số tử vong của cả nước).
Sởi là một căn bệnh dễ lây, nhưng từ vài năm trở lại đây tại Việt Nam, căn bệnh này được coi là nằm trong tầm khống chế, với 1.048 ca nhiễm bệnh được ghi nhận năm 2013, rải khắp cả nước, và không có trường hợp tử vong nào. Ngành Y tế Việt Nam tin tưởng có thể loại trừ được bệnh sởi vào năm 2017, như cam kết với Tổ chức Y tế Thế giới.
Tuy nhiên, bước vào mùa dịch đầu 2014, riêng trong tháng đầu năm, đã có nhiều trường hợp tử vong vì sởi được thông báo, và số lượng người bị nhiễm đã tương đương với con số năm ngoái. Cho đến giữa tháng 4/2014, dịch sởi tiếp tục lan rộng, liên tục gây ra các trường hợp tử vong mới.
Nhưng, chỉ đến khi xuất hiện việc ông Vũ Đức Đam, Phó thủ tướng phụ trách y tế – sau khi đọc được thông tin trên mạng Facebook của một bác sĩ về dịch sởi đang bùng phát – quyết định đến thăm Bệnh viện Nhi Trung ương ngày 15/04, thì Cục Y tế Dự phòng Bộ Y tế mới chính thức công bố con số 108 người chết có liên quan đến sởi từ đầu năm. Trong đó riêng tại Bệnh viện Nhi Trung ương, đã có 103 sinh linh giã từ cõi đời. Con số nói trên khiến công luận bàng hoàng, người dân, đặc biệt những người có con nhỏ, hết sức lo lắng, hoang mang.


Tại một phòng điều trị Bệnh viện Nhi Trung ương (DR)

Trong tình trạng bệnh dịch đang tiếp tục và thêm nhiều ca tử vong được ghi nhận, rất nhiều người hết sức bất bình trước thái độ của Bộ Y tế, tuy đã thừa nhận là đang có “dịch” và nỗ lực hơn trong các hoạt động phòng chống dịch, nhưng vẫn khăng khăng không chấp nhận chính thức « công bố dịch » theo luật định.
Cùng với việc tổng số người chết vì dịch sởi được giữ « bí mật » đến phút chót, việc Bộ Y tế vừa chấp nhận có dịch, vừa không chịu « công bố dịch » gây một tình trạng mù mờ và mâu thuẫn về thông tin, gây khó hiểu và thậm chí reo rắc nỗi hoang mang trong công luận về mức độ nghiêm trọng của dịch. Nhiều người phỏng đoán không phải chỉ hơn 100 đứa trẻ xấu số qua đời vì sởi, mà có thể có đến hàng trăm nạn nhân khác trong đợt dịch này (do tình trạng nhiều gia đình được bệnh viện cho về, hoặc tự xin về khi thấy bác sĩ bảo trẻ chỉ sống được ít giờ nữa).
Nếu như giới y khoa và những người quan tâm đều hiểu rằng việc không tiêm chủng theo quy định là một nguyên nhân căn bản khiến dịch sởi reo rắc chết chóc (gần 90% bị mắc sởi là do không tiêm chủng), thì nỗi nghi ngờ trước hết hướng về Bệnh viện Nhi trung ương (ở Hà Nội), nơi tập trung đến hơn 90% người chết theo một số ghi nhận. Sau khi những thông tin nói trên được chính thức công bố, một số chuyên gia và nhà quản lý đồng loạt ghi nhận « lây chéo » trong bệnh viện chính là nguyên nhân trực tiếp. Tình trạng « quá tải » của bệnh viện – đặc biệt ở một bệnh viện tuyến cuối, nơi điều trị các bệnh nhân nặng nhất – được nhiều nhà quản lý, nhà chuyên môn và một bộ phận công luận lý giải như là điều kiện căn bản khiến dịch bệnh bùng phát.
Tuy nhiên, tình hình cụ thể tại chỗ chưa hẳn là như vậy. Tình trạng quá tải là chung cho nhiều bệnh viện, nhưng tại sao ổ dịch lại ở Viện Nhi Trung ương ?
Qua một số nhân chứng, với các thông tin được đăng tải trên một số mạng xã hội, cũng như nhận định của một số chuyên gia, thì chính tình trạng khám bừa, kê đơn ẩu, dịch vụ công – tư lẫn lộn trong bệnh viện, cùng thái độ coi thường sức khỏe và sinh mạng của người bệnh ở nhiều nhân viên y tế mới là những nhân tố trực tiếp đẩy các bệnh nhân, nhất là những bệnh nhân tí hon, vào các tình trạng hết sức bất lợi.
Không thể đánh đồng tất cả, không thể nhập làm một những y bác sĩ có tay nghề, tâm đạo, tận tụy công việc, với những con người nói trên. Dịch sởi diễn ra ròng rã nhiều tháng trời tại Viện Nhi Trung ương trong suốt hàng tháng qua dường như là phần nổi của một tảng băng chìm, kết quả của những tệ nạn trầm kha của một hệ thống y tế, dù đã và đang tiếp tục nhận được nhiều đầu tư và tin tưởng từ xã hội, nhưng không đáp lại bằng những phục vụ xứng đáng. Một ban lãnh đạo ngành y tế, sau khi đã phạm sai lầm khiến dịch bệnh bùng lên, đã không chấp nhận đối diện với sự thực, với các sai phạm, mà tiếp tục áp đặt quan điểm, bỏ qua nhiều phản hồi và đóng góp có cơ sở. Tiếp theo hàng loạt bê bối từ nhiều năm nay (đặc biệt là các ca tử vong sau khi tiêm phòng gây một tâm lý lo ngại phổ biến về chất lượng vắc xin, khiến các cha mẹ rất ngại đưa con đi tiêm chủng…), vụ Bệnh viện Nhi Trung ương biến thành « ổ dịch sởi », là giọt nước tràn ly, dường như khiến công luận không thể không đặt lại câu hỏi rằng liệu với năng lực như vậy, lãnh đạo Bộ Y tế Việt Nam hiện nay có còn đủ khả năng điều hành được lĩnh vực hết sức hệ trọng này ?
Để chuyển đến quý thính giả một số nhận định và đánh giá về phản ứng của ngành Y tế Việt Nam trước dịch sởi hiện nay, cũng như vấn đề trách nhiệm pháp lý của Bộ Y tế trong vấn đề công bố dịch hay không (trong hiện tại và trong thời gian từ đầu năm đến nay), và tình trạng tử vong hàng loạt do sởi tại Viện Nhi Trung ương, RFI đặt câu hỏi với Bác sĩ Trần Tuấn và Luật sư Trần Vũ Hải (Hà Nội).

Bác sĩ Trần Tuấn và Luật sư Trần Vũ Hải trả lời phỏng vấn

23/04/2014

Nghe (13:02)
More

Hệ thống thu thập thông tin về dịch bệnh không hoạt động theo « thiết kế »
RFI : Trước hết xin Bác sĩ cho biết ghi nhận chung của Bác sĩ về tính minh bạch thông tin của lãnh đạo ngành y tế liên quan đến dịch sởi hiện nay, gây nhiều tử vong tại Việt Nam.
Bác sĩ Trần Tuấn : Đúng là trong dư luận đang xôn xao về vấn đề có hay không việc che giấu dịch, không công bố dịch, cũng như số lượng ca tử vong, theo báo cáo của Bộ Y tế trước đó là 25 trường hợp, và sau đó khi Phó thủ tướng Vũ Đức Đam đến Viện Nhi Trung ương, lúc đó công luận mới được biết là 108 trẻ. Tức là gấp hơn 4 lần. Sự chênh lệch đó là quá rõ ràng. Nhưng tôi cũng đặt một vấn đề khác.
Tôi nghĩ là có thể Bộ Y tế không thực sự nắm được tình hình diễn biến của dịch trên thực tế. Hay nói cách khác, hệ thống giám sát dịch tễ học, tức việc thu thập thông tin, phân tích và cập nhật thông tin hàng ngày, dường như đã không hoạt động được như thiết kế, để cung cấp thông tin cho lãnh đạo Bộ.
Vấn đề sởi, do nhiều năm tiêm chủng « tốt », không còn vấn đề y tế công cộng, có thể xẩy ra sự chủ quan. Chính sự chủ quan đã dẫn đến việc không tổ chức tốt, không giám sát thường xuyên, không đôn đốc theo dõi những trường hợp và hệ thống thông tin báo cáo, từ phía cộng đồng, cũng như từ phía bệnh viện.

Virus sởi năm nay bình thường hay khác lạ ?
Bác sĩ Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) : có nhiều điểm lạ trong dịch sởi năm nay. Đến nay, khoa tiếp nhận hơn 160 ca sởi, trong đó 8 ca đã tử vong. Từ đầu dịch, khoa liên tiếp nhận 3 ca sởi có diễn biến chỉ trong một ngày đã suy hô hấp rất nặng (1 ca tử vong). Các xét nghiệm chỉ tìm thấy sự hiện diện của virus sởi mà không có các tác nhân khác. Theo phó giáo sư Dũng, điều rất lạ là virus sởi tấn công thẳng vào phổi, gây viêm phổi, suy hô hấp; trong khi thông thường phải sau khi sởi ban, trẻ mới bị các biến chứng viêm phổi. Cả 4 ca mắc sởi với bệnh trạng tương tự như vậy đều tử vong trong vòng 3-4 ngày đầu của bệnh. (Theo bài « Nhiều ca sởi diễn biến lạ », Vnexpress.net, ngày 22/04/2014).
Ông Trần Đắc Phu, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng : Theo các chuyên gia virus học cho thấy, các chủng virus sởi ở Việt Nam chưa có sự biến đổi gen một cách khác biệt so với sự lưu hành của các chủng virus trong khu vực, cũng không có sự gia tăng về độc lực. Thời gian qua, việc xuất hiện, sự gia tăng bệnh sởi và một số ổ dịch chỉ với quy mô nhỏ, tập trung hoặc rải rác. Theo nhận định, dịch bệnh xuất hiện năm nay là do tính chất chu kỳ dịch xuất hiện sau 4-5 năm, kể từ vụ dịch 2009-2010. Nguyên nhân là do quá trình dồn lại những trường hợp trẻ em không được tiêm chủng, hoặc có tiêm chủng nhưng không tạo được miễn dịch qua các năm và bị mắc bệnh. Điều này phù hợp với diễn biến dịch sởi trên thế giới và khu vực của các nước triển khai chương trình tiêm chủng mở rộng vaccin sởi cho trẻ em. Qua thống kê báo cáo, chúng tôi thấy các trường hợp mắc sởi năm nay vẫn thấp hơn so với số người mắc sởi năm 2009-2010. (Theo bài « Chưa công bố dịch sởi vì vẫn trong tầm kiểm soát », Báo CAND, 13/04/2014).
Ông Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương : sự trở lại của đợt dịch sởi không có gì bất thường bởi theo chu kỳ cứ 3-5 năm, dịch lại bùng phát. Năm 2006 cũng xảy ra một đợt dịch sởi với 3.000 trẻ mắc, năm 2009-2010 tiếp tục xảy ra dịch với 7.500 ca trên cả nước, trong đó dịch tập trung ở các tỉnh phía Nam. Đây cũng là năm có số mắc lớn nhất trong vòng 10 năm qua. (Theo bài “Dịch sởi diễn biến khó lường“, Cổng thông tin sức khỏe và khám chữa bệnh trực tuyến, ngày 10/02/2014).

RFI : Thưa bác sĩ, về vấn đề không có được các số liệu và thông tin kịp thời và chính xác về các số liệu tử vong tại bệnh viện Nhi Trung ương, thì ai là người chịu trách nhiệm ?
Bác sĩ Trần Tuấn : Số liệu không chính xác, rõ ràng đây là thuộc về lĩnh vực y tế dự phòng. Cơ quan cấp cao nhất là Cục y tế dự phòng. Và bộ phận tham mưu ở dưới chuyên môn theo dõi dịch, cũng như tổ chức tiêm chủng, nghiên cứu về dịch là Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương. Tôi cho rằng đây là hai đầu mối chính, trong đó tôi nhấn mạnh vai trò của Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương.
Trong trường hợp này, nếu như tình trạng số liệu bị chênh đến như thế, có nghĩa là vai trò của Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, chức năng nghiên cứu không được tốt. Một điều nữa, chúng tôi nhận thấy, để xẩy ra tình trạng nhiễm trùng chéo, lây nhiễm chéo trong bệnh viện, dẫn tới tình trạng tử vong nhiều đến như thế, thì rõ ràng bộ phận giám sát dịch đã không đặt việc thông tin về số mắc, số chết trong bệnh viện vào hệ thống giám sát theo dõi dịch của bên hệ Y học Dự phòng.
Ngoài ra, nếu nói về bên có trách nhiệm nữa, thì Bệnh viện Nhi Trung ương là nơi đầu ngành về nhi, nơi hàng ngày có hàng trăm sinh viên, nghiên cứu sinh, thầy cô ở đấy, mà một vụ dịch sởi như thế xẩy ra, số lượng trẻ chết tăng cao như vậy lại không có các nghiên cứu được tiến hành.
Ai chịu trách nhiệm về việc « lây chéo » ?
RFI : Việc « lây chéo », cụ thể ở Bệnh viện Nhi Trung ương được coi là nguyên nhân trực tiếp số một gây tử vong hàng loạt, xin bác sĩ cho biết cụ thể.
Bác sĩ Trần Tuấn : Chúng ta đều biết bệnh viện là nơi tập trung các nguồn bệnh. Các bệnh nhân đã đến viện rồi thì đều là yếu, cho nên ngay trong cấu trúc vận hành đầu tiên của bệnh viện, thì một trong những tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá chất lượng bệnh viện chính là không để xẩy ra lây nhiễm chéo. Mà đối với sởi, thì vấn đề càng quan trọng, vì virus sởi đánh vào hệ thống miễn dịch, khả năng chống đỡ của cơ thể, để rồi mà, trên nền cơ thể bị suy yếu sau khi chống sởi xong, thì rất dễ bị các bệnh khác xâm nhập. Sởi là bệnh lây nhiễm bằng đường hô hấp nên lan truyền rất nhanh. Và thường là nhiễm ở trẻ nhỏ tầm 9 tháng tuổi, khi mà các cơ chế bảo vệ từ người mẹ truyền cho con bắt đầu giảm và hết hiệu lực.
RFI : Tại sao lại xẩy ra tình trạng lây chéo phổ biến như vậy và ai là người chịu trách nhiệm ?
Bác sĩ Trần Tuấn : Ta tạm gọi là tình trạng đông đúc, bên Việt Nam gọi là « quá tải » là nguyên nhân chính. Lẽ ra, theo tôi là phải, khi có dịch sởi và khi có bệnh nhân sởi vào, thì việc đầu tiên, « cảm giác lâm sàng » đầu tiên là phải làm sao cách ly đối tượng sởi này ra một khu điều trị riêng. Nếu không tổ chức ngay từ đầu một cách riêng biệt, thì ngay trên đường vào bệnh viện đã có thể gây lây nhiễm.
Phải có hai chiến lược, nếu anh tiếp nhận, phải tổ chức rất tốt sự cách ly, đồng thời phải làm sao chính việc bệnh nhân đang ốm yếu hoặc nặng, phải làm sao giảm tải được số lượng nằm bệnh viện, bằng cách cho ra sớm các trường hợp bệnh khác, hoặc tạo khu riêng, các vệ tinh để tách không cho lên Bệnh viện Nhi Trung ương…

Lây chéo phổ biến : Hậu quả của tình trạng bệnh viện quá tải trong thời gian lâu dài
(Một số nhận xét của Bác sĩ Trần Tuấn)
Tình trạng quá tải bệnh viện diễn ra nhiều năm rồi, các y bác sĩ cũng đã kêu nhiều rồi, các nhà lãnh đạo đã kêu nhiều rồi, nhưng anh ( ?) vẫn để tình trạng như thế. Nên nó sẽ xẩy ra một tình trạng mà biết là bất hợp lý, nhưng thành thói quen. Cho nên, những trường hợp sốt khác, chưa chẩn đoán được, cũng vẫn đưa vào. Xác suất lây cao như thế cũng vẫn đưa vào thường xuyên như vậy, bắt buộc phải nằm chung như vậy. Như vậy, thêm một trường hợp đang nghi ngờ sởi, thì họ vẫn đưa vào theo cách như vậy thôi, vì không còn cách nào khác.
Điều kiện làm việc không được giải quyết theo yêu cầu chuyên môn của việc chống nhiễm khuẩn trong bệnh viện đã xẩy ra từ lâu rồi. Anh càng để lâu bao nhiêu, thì thói quen làm việc của bác sĩ cũng bị biến đổi cho phù hợp với môi trường đó, và làm cho người ta không còn nghĩ đến các nguyên tắc của vấn đề phòng chống lây nhiễm (chéo). Cho nên việc xẩy ra với sởi là đương nhiên. Vì sởi là quá dễ nhận biết, và dẫn đến chết người như vậy, người ta mới tỉnh ngộ ra là quá tải dẫn đến hậu quả như vậy, trong khi còn nhiều trường hợp nhiễm trùng khác cũng có rất nhiều khả năng xẩy ra.

Bộ Y tế độc quyền quan điểm, bệnh nhân không hội, đoàn bảo vệ
Qua nạn dịch bệnh vượt tầm kiểm soát tại Bệnh viện Nhi trung ương tại Hà Nội, và các phản ứng của lãnh đạo Bộ Y tế, Bác sĩ Trần Tuấn cho biết một số nhận định của ông về sự thái độ độc quyền của ngành y và thực trạng không có cơ chế bảo vệ quyền lợi cho các bệnh nhân – là nạn nhân của các đối xử tiêu cực từ phía nhân viên ngành y.
Bác sĩ Trần Tuấn : Tôi thấy là khi cái tình hình này xẩy ra, có một khoảng trống rất rõ, thể hiện rằng bệnh nhân, người sử dụng dịch vụ y tế gần như không tiếng nói trước các dịch vụ cung cấp cho họ. Trong Luật khám chữa bệnh hiện nay, trên thực tế, tiếng nói bảo vệ người sử dụng dịch vụ y tế là hầu như không có. Tổng hội y học là nơi lẽ ra đã phải thực hiện nhiệm vụ chức năng độc lập với bên Bộ Y tế, để tham gia giám sát các chức năng chuyên môn, thì hầu như cũng không làm được gì.
Chúng ta có thể thấy trong câu chuyện này, một mình Bộ Y tế, một mình ngành Y, đại diện cho bên cung cấp dịch vụ, có vị trí độc tôn. Ngay cả việc báo chí truyền thông, cũng dường như bất lực trước sự « bình tĩnh, tự tin » của Bộ Y tế.
Dường như xã hội chỉ có thể chất vấn thế thôi, chứ cũng không thể có cách nào khác. Bộ Y tế không công bố dịch, thì thôi cũng chịu. Báo con số bao nhiêu, biết bấy nhiêu. Đấy là tâm trạng hiện nay.
Và phía phản biện, thực ra cũng không có bao nhiêu (người) để phản biện phân tích về chuyên môn. Xã hội thiếu sự tham gia của bên giám sát độc lập. Cho nên, chúng ta không biết gì về tình hình (thực sự – ndr) của vụ dịch.
Về phía bệnh nhân, họ cũng không có các hội bệnh nhân để bảo vệ cho những quyền lợi của họ. Cho nên, đọc các nhật ký của các bà mẹ, có con bị sởi, có thể thấy điều đấy (sự cô độc, không nơi nương tựa, bấu víu – ndr) (Có thể tham khảo bài “5 ngày con nằm viện” của FB Lan Hương Trần, một người mẹ có con tử vong vì sởi, hay “Nhật ký giữa tâm dịch sởi của một bà mẹ trẻ“, của Nguyệt Ca, một người mẹ đang có con bị sởi điều trị tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương…).
Các nhà khoa học cũng hầu như không vào cuộc. Không có những bài viết (được tiến hành độc lập – ndr) phân tích về chuyện đó. Đó là bức tranh chung.
Nếu công bố dịch sớm, tổn thất sinh mạng có thể giảm nhiều
Cách đây một hôm, 21/04, Luật sư Trần Vũ Hải gửi kiến nghị đến Thủ tướng đề nghị kỷ luật lãnh đạo Bộ Y tế và chính quyền Hà Nội vì phát ngôn liên quan đến việc công bố dịch. Về vấn đề này, Luật sư Trần Vũ Hải cho biết :
Luật sư Trần Vũ Hải : Việt Nam có luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm, được ban hành năm 2007, trong đó có nói rằng « mọi dịch đều phải được công bố ». Còn quy trình công bố thế nào, thì do Thủ tướng quy định. Theo quy định của Thủ tướng, có phân ra Bộ Y tế trường hợp nào, trường nào do Ủy ban cấp tỉnh công bố.
Tuy nhiên, khi báo chí phát hiện ra bệnh sởi đã bị lây lan, rất nhiều em đã bị mắc bệnh và nhiều em chết, thì chỗ Bộ Y tế cho rằng chưa đến mức là dịch, do đó chưa cần công bố. Sau đó, họ lại cho rằng nếu có công bố, đó là việc của chính quyền địa phương, và Bộ Y tế đã hỏi chính quyền địa phương, cụ thể là Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, cho rằng không cần thiết phải công bố, hoặc công bố hay không, không quan trọng.
Vấn đề dịch, thực sự là họ (chính quyền – ndr) đã thừa nhận là có dịch. Họ công nhận dịch nhưng không công bố, nên đó là một sự mâu thuẫn lớn. Hôm qua (21/04), bà Bộ trưởng nói rằng việc không công bố cũng có những lý do, tức là nếu công bố dịch, thì phải làm một loạt các biện pháp, có ảnh hưởng đến nhiều vấn đề khác nhau, ví dụ vấn đề các học sinh phải nghỉ, hay sợ mất khách hàng…
Theo chúng tôi, hiện nay họ đang lập luận như thế, nhưng điều căn bản là theo chúng tôi, đã có dịch, đã xác định dịch, thì phải công bố theo luật. Không thể lấy lý do khác được. Ngoài ra khi công bố dịch, sẽ áp dụng mục 3, tức là « các biện pháp chống dịch » trong đó phải thành lập một « Ban chỉ đạo chống dịch » (điều 46) và phải có những biện pháp rất nghiêm ngặt trong vấn đề chống dịch, như phải cách ly tại các bệnh viện… Ví dụ như chúng ta biết đối với dịch bệnh Sars cách đây chục năm.
Đối với bệnh viện Nhi, nếu làm được (việc công bố dịch – ndr) trước đó, thì sẽ không được tập trung các em đến đây. Do đó sẽ không có lây chéo. Tại sao họ không làm việc đó (tức công bố dịch) ? Theo chúng tôi đây là một sai lầm cố ý của Bộ Y tế và Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, họ đang đùn đẩy trách nhiệm cho nhau.
Vụ việc rất nghiêm trọng cần được các đại biểu Quốc hội lên tiếng
Về trách nhiệm của Bộ Y tế trong việc dịch bệnh xẩy ra không kiểm soát được tại Viện Nhi Trung ương, gây tử vong nặng nề,
Luật sư Trần Vũ Hải : Chúng tôi cho rằng, các đại biểu Quốc hội phải có trách nhiệm chất vấn bà Bộ trưởng Y tế về vụ việc. Và theo tôi, vụ việc này rất nghiêm trọng. Vì hơn 100 em đã chết vì bệnh sởi. Thì phải truy ra căn nguyên, trách nhiệm của Bộ Y tế là ở đâu. Và truy căn xem số lượng tử vong cao như vậy có phải xuất phát từ chỗ không công bố dịch hay không ?
Vì bệnh viện Nhi là thuộc quyền quản lý của Bộ Y tế. Nếu có bất kỳ hiện tượng bất thường nào, Bộ Y tế cũng phải nắm. Tôi nghĩ rằng trong trường hợp này, bệnh viện Nhi đầu tháng 4/2014 đã quá tải rồi, nhưng nếu làm đầy đủ, thì Bộ Y tế ngay từ tháng 3/2014 đã có những số liệu ấy rồi. Theo chúng tôi, đây là vi phạm rồi.
Tôi tin rằng, đúng ra Viện Kiểm sát tối cao có thể khởi tố một vụ án thiếu trách nhiệm, gây hiệu quả nghiêm trọng ở đây rồi. Tôi đang nghiên cứu điều đó, và chúng tôi sẽ đề nghị phải kiểm tra xem, khi xử lý những thông tin đó, Bộ Y tế đã xử lý như thế nào ? Khi giám đốc bệnh viện Nhi đã báo cáo lên đầu tháng 4, mà họ không giải quyết ngay. Vì, truyền nhiễm, truyền dịch là phải cấp báo, nhận là phải xử lý ngay. Nếu không xử lý rồi, đầu tháng 4/2014 đến ngày 14/04, thậm chí đến ngày 17/04, đã có bao nhiêu trường hợp đổ dồn vào đó, để cuối cùng lại thêm bệnh. Chúng tôi sẽ đề nghị các đại biểu Quốc hội phải chất vấn đến cùng việc này là : Có hay không việc chậm hoặc không công bố dịch, dẫn đến số lượng các cháu bị (lây và chết – ndr) tăng lên hay không ?
Có bằng chứng để khởi kiện các lãnh đạo ngành Y
Về khả năng khởi kiện lãnh đạo các cơ quan quản lý ngành y về các hậu quả nghiêm trọng trong vụ dịch này, Bác sĩ Trần Tuấn chia sẻ quan điểm.
Bác sĩ Trần Tuấn : Tôi nghĩ như, nếu đứng về mặt khách quan mà nói, thì hoàn toàn việc đó là một đề cập lôgic, một đề cập đúng. Còn về mặt gọi là : Liệu cái đấy có thành hiện thực hay không trong điều kiện của Việt Nam này, thì đấy lại là câu hỏi thứ hai. Và chưa chừng nó lại trở thành một cái gọi là giống như trường hợp Luật sư Cù Huy Hà Vũ, trở thành một tai họa cho người đã nghĩ một cách hoàn toàn theo lôgic của một xã hội hiện đại, của một công dân trong xã hội hiện đại. Trường hợp này cũng thế thôi.
Nếu đứng về phân tích về đặc điểm vụ dịch và các căn nguyên, thì có thể thấy tỷ lệ chết cao bất thường như thế, hoàn toàn do vấn đề lây chéo trong bệnh viện. Và rõ ràng bệnh viện đã trở thành nguồn ổ lây nhiễm, hay chức năng phòng nhiễm khuẩn bệnh viện đã hoàn toàn bị tê liệt. Điều này diễn ra không phải chỉ trong một vài ngày, một vài tuần, mà nhiều tuần, nhiều tháng. Và như thế việc này có thể quy được trách nhiệm rất rõ, với rất nhiều bằng chứng có thể quy được trách nhiệm. Về mặt lôgíc mà nói hoàn toàn có thể xẩy ra việc nêu thành một vụ kiện được. Những bộ phận có liên quan, như các bài viết của tôi đã phân tích, không chỉ có… (ban lãnh đạo Bộ ?) mà toàn bộ, từ Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, đến các Viện Nhiệt đới, Viện Nhi Trung ương, Cục quản lý khám chữa bệnh, Cục Y tế dự phòng. Tất cả đều phải chịu trách nhiệm cho những mất mát cho vụ dịch này. Nhưng tất nhiên, liệu việc thể hiện những vấn đề…, giải quyết theo chiều hướng của một xã hội hiện đại như vậy có phù hợp với Việt Nam hay không, và ai dũng cảm để đứng ra làm việc này ?
Cũng liên quan đến vấn đề trách nhiệm pháp lý của Bộ Y tế trong việc công bố hay không dịch sởi, trả lời trang mạng Trí thức trẻ, (ngày 20/04/2014), Luật sư Nguyễn Hồng Bách, Chủ tịch HĐTV Công ty luật hợp danh Hồng Bách (Hà Nội) nhận xét : do tính chất nguy hiểm của dịch sởi hiện nay, « (…) cần công bố dịch bệnh theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 2 và khoản 1 Điều 2 Quyết định 64/2010/QĐ-TTg”. Và nếu đã đủ cơ sở cho thấy bắt buộc phải công bố dịch mà không công bố theo quy định pháp luật khiến dịch bệnh lây lan trên diện rộng, gây hậu quả nghiêm trọng thì có thể bị xử lý hình sự theo điều 186 BLHS (“hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 186 BLHS).
RFI xin cảm ơn Luật sư Trần Vũ Hải và Bác sĩ Trần Tuấn.
Tin bài liên quan
Việt Nam đối mặt với dịch sởi khiến hơn 100 người chết
Trẻ tử vong sau khi tiêm vắc-xin viêm gan B : Phản ứng tại Việt Nam
Nỗ lực cải thiện suy dinh dưỡng trẻ em ở Việt Nam
Y tế 2013 : Phòng bệnh và điều trị sớm trở thành xu thế

Chống dịch Sởi : Ai lẩn tránh trách nhiệm ? Ngày 3/4 : Bệnh viện Nhi Trung ương kêu gọi sự hỗ trợ của Bộ Y tế Ngày 4/4 Ông Phạm Nhật An Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương khắng định hơn 40 năm qua chưa năm nào dịch sởi diễn biến nặng và bất thường như năm nayNgày 8/4, Bộ Y tế khẳng định dịch sởi diễn biến bình thường và đang giảm. Giám đốc Bệnh Viện Nhi Trung ương Lê Thanh Hải thông báo tỷ lệ bệnh nhân tăng 30% (10.000 ca, trong đó 50% là bệnh nhân đường hô hấp, sởi) Cục Y tế Dự phòng ra văn bản khẳng định Bộ Y tế chưa phát hiện thấy có sự biến đổi về gen và các tuýp virus sởi lưu hành tại Việt Nam, không có thay đổi về độc lực của các chủng virus sởi. Ngày 14/4 : Ông Phạm Nhật An, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, đề nghị Bộ Y tế công bố dịch (thông qua báo giới) Ngày 15/4 : Ông Vũ Đức Đam, Phó thủ tướng Phụ trách Y tế, xuống thị sát tình hình dịch sởi tại Viện Nhi Trung ương, sau khi nhận được tin từ mạng xã hội Facebook. Phó Thủ tướng Phụ trách Y tế yêu cầu Bộ Y tế « khẩn trương tìm biện pháp khống chế và cân nhắc công bố dịch sởi nếu thực sự cần thiết » (theo Vnexpress.net, ngày 15/04).Ngày 16/4 : Về dịch sởi đang diễn ra bất thường tại Việt Nam, ông Takeshi Kasai, Trưởng đại diện Tổ chức Y tế (WHO) thế giới tại Việt Nam khuyến nghị Bộ Y tế nên đặt tình trạng sởi hiện nay vào tình huống « khẩn cấp và nghiêm trọng », và cần nỗ lực hết sức để kiểm soát được tình trạng này. Trong cuộc họp với Bộ Y tế, ông Nguyễn Khắc Hiền, Giám đốc Sở Y tế Hà Nội nói xin ý kiến chính quyền Hà Nội về công bố dịch (điểm a, khoản 1, điều 38 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm quy định Chủ tịch Ủy ban cấp tỉnh công bố dịch theo đề nghị của Giám đốc Sở Y tế – ndr). Trong cuộc họp Ủy ban Nhân dân Hà Nội, Phó chủ tịch Nguyễn Thị Bích Ngọc nhắc lại lời của Phó Thủ tướng Phụ trách Y tế đã chỉ đạo Bộ Y tế dù “không công bố dịch nhưng phải triển khai các biện pháp phòng chống dịch sởi như đang có dịch”. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gửi Công điện hỏa tốc « Về việc phòng, chống dịch sởi » đến các tỉnh, Bộ Y tế, Bộ Thông tin truyền thông…. Lần đầu tiên, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến thị sát dịch sởi tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Ngày 17/4 : Lần đầu tiên Bộ trưởng Y tế họp với Bệnh viện Nhi Trung ương về tình hình điều trị sởi. Ngày 18/4 : Bộ trưởng Bộ Y tế ký Công văn hoả tốc gửi Chủ tịch UBND 14 tỉnh thành phố đề nghị triển khai các biện pháp quyết liệt khống chế dịch sởi và báo cáo tình hình hàng ngày. Bộ Y tế tổ chức họp báo công bố « có dịch sởi ». Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long một mặt tuyên bố có dịch sởi ở Việt Nam, mặt khác không chấp nhận « công bố dịch » (theo luật) mà chỉ « thông báo dịch ».(Báo Đời sống Pháp luật có bài bình luận “Không công bố dịch sởi : Cái lưỡi không xương…”). Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Xuyên ban hành hướng dẫn chẩn đoán và điều trị sởi mới cập nhật, để điều trị cho nhóm trẻ mắc sởi nặng và trẻ dưới 9 tháng tuổi. Ngày 21/04 : Bộ trưởng Y tế khẳng định Hà Nội không công bố dịch là « phù hợp ». Báo chí trong nước bình luận : Nói chuyện tại bệnh viện Bạch Mai, Bộ trưởng Y tế khẳng định 4 nguyên nhân dịch sởi bùng phát, trong đó 3 nguyên nhân « do dân » (Thứ nhất là các cháu bé không được tiêm vaccine. Thứ hai là bố mẹ các cháu đưa con đổ dồn đến tuyến trung ương dẫn đến quá tải. Thứ ba là bệnh nhi dồn một chỗ quá đông, gây lây nhiễm chéo), và một nguyên nhân do thời tiết… Ngày 23/4 : Họp khẩn về hoạt động chống dịch sởi, Thủ tướng phê phán Bộ Y tế không theo dõi tình hình dịch bệnh « kịp thời, đúng mức, trọng tâm, trọng điểm, hiệu lực và hiệu quả », và tuyên truyền không tốt khiến dịch bùng phát lớn.(Tổng hợp thông tin từ các báo trong nước)

__,_._,___

Posted in Uncategorized | Để lại phản hồi

Thư của các giáo sư Hồ Tú Bảo, Ngô Bảo Châu, Trần Văn Thọ, Cao Huy Thuần gửi Hiệu trư ởng Đại học Sư phạm Hà Nội

http://ongvove.files.wordpress.com/2014/02/dotsach00.jpg?w=640

Ishikawa, Chicago, Tokyo và Paris, ngày 18 tháng 4 năm 2014

Thư gửi ông Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Hà Nội

Kính gửi Giáo sư Nguyễn Văn Minh,
Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Thưa ông Hiệu trưởng,
Chúng tôi được các bạn đồng nghiệp ở trong nước cũng như ở ngoài nước cho biết xúc động của họ về việc tái thẩm định luận văn thạc sĩ của cô Đỗ Thị Thoan và hậu quả khắc nghiệt mà việc đó đã đem lại cho cô giáo Đỗ Thị Thoan và bà Nguyễn Thị Bình, người đã hướng dẫn luận văn của cô. Là những người đã từng làm việc lâu năm trong các đại học ở nước ngoài, chúng tôi chưa thấy một trường hợp nào tương tự đã xảy ra, và cũng không hình dung được khả năng nào có thể xảy ra hiện tượng đó về mặt khoa học. Vì vậy, chúng tôi hoàn toàn chia sẻ nỗi xúc động chính đáng của các đồng nghiệp ở trong nước và bày tỏ mối quan tâm của chúng tôi đối với hiện tình của nền học thuật đại học tại Việt Nam qua sự cố này.
Trong sự việc đang làm dấy lên phản ứng, chúng tôi thấy cần phải phân biệt rõ ràng hai chỗ đứng khác nhau: một đằng là một hiện tượng văn học, một đằng là việc nghiên cứu hiện tượng đó. Nghiên cứu một hiện tượng không có nghĩa là người nghiên cứu đồng ý với hiện tượng ấy. Giá trị của luận văn, vì vậy, không thể căn cứ trên xét đoán chủ quan của người này người nọ về tính cách đúng sai của hiện tượng mà chỉ duy nhất căn cứ trên những tiêu chuẩn khoa học liên quan đến công trình nghiên cứu. Và người thẩm định duy nhất về giá trị khoa học đó không có ai khác hơn là hội đồng giám khảo. Khi một hội đồng giám khảo (do nhà trường lập ra theo đúng quy trình) đã tuyên bố kết quả của việc thẩm định rồi thì không có cơ quan nào khác có thẩm quyền truất phế kết quả ấy. Tất nhiên ai cũng có quyền phê bình luận văn, nhất là trên những sách báo chuyên môn, nhưng phê bình là một chuyện mà trừng phạt là chuyện khác. Sự “trừng phạt” duy nhất mà các luận văn kém chất lượng khoa học phải chịu là sự phê phán của giới khoa học trong ngành, và bất lợi trong các cuộc tuyển chọn giáo chức. Nhưng dù bị loại trong các cuộc tuyển, tác giả cũng không bị mất danh vị tiến sĩ, thạc sĩ. Chúng tôi chưa bao giờ chứng kiến một việc trừng phạt đau xót và bất nhẫn như hình phạt mà cô Đỗ Thị Thoan và, gián tiếp, bà Nguyễn Thị Bình đã phải chịu.
Chúng ta hằng mong muốn chứng tỏ đại học của chúng ta xứng tầm với các đại học trên thế giới tiên tiến. Muốn thế, chúng ta phải tôn trọng những nguyên tắc căn bản của đại học, trong đó phê phán chỉ có thể dựa trên những tiêu chuẩn thuần túy khoa học là một nguyên tắc tối thiểu.
Cuối cùng, chúng tôi cũng mong muốn rằng thái độ cư xử giữa các đồng nghiệp với nhau, cũng như giữa giáo sư và sinh viên trong đại học của ta, không khác với tinh thần trong các đại học của thế giới văn minh: rộng mở, tự do, bình đẳng, nhân ái.
Chúng tôi cám ơn sự chú ý mà ông Hiệu trưởng dành cho bức thư này.
Trân trọng kính chào ông Hiệu trưởng
Hồ Tú Bảo, Giáo sư Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản, Ishikawa, Nhật Bản.
Ngô Bảo Châu, Giáo sư Đại học Chicago, Hoa Kỳ.
Trần Văn Thọ, Giáo sư Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản.
Cao Huy Thuần, nguyên Giáo sư Đại học Picardie, Paris, Cộng hoà Pháp.
Nguồn:Thư gửi ông Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Hà Nội

Thư gửi ông Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Hà Nội Thưa ông Hiệu trưởng,
View on www.viet-studies.info Preview by Yahoo

__,_._,___

Posted in Uncategorized | Để lại phản hồi

Bảo Tàng Marysville Của Người Lính Bị Bỏ Quên , Cali

Năm 1965, cậu bé Dann 10 tuổi của thành phố cổ Marysville có người bạn lớn đi lính sang Việt Nam chiến đấu. Nhận thư bạn lớn từ chiến trường Dĩ An, cậu bé 10 tuổi xúc động, bắt đầu sưu tập kỷ vật về Việt Nam để làm… bảo tàng. 50 năm sau, Bảo Tàng từ nhà để xe của Dann, nay đã thành một công viên bảo tàng, quốc kỳ người lính Việt Nam Cộng Hoà được trân trọng. Tác giả bài viết là nhà giáo Phương Hoa của thành phố cổ Marysville, California.

* * *

Trước đây có người hỏi điều gì đã khiến chúng tôi dọn đến Marysville, tôi trả lời có ba lí do. Thứ nhất, là đi theo “tiếng gọi” của…việc làm (move for job), một cái job toàn thời gian mà “cô giáo già” như tôi không dễ gì kiếm được ở những nơi khác. Kế đến, Marysville là thành phố “Oldest & Smallest,” cổ nhất và nhỏ nhất California tổng dân số chỉ hơn mười hai nghìn người nên khá yên tỉnh. Và điều hấp dẫn chúng tôi nhất, là cánh đồng lúa dọc hai bên xa lộ chạy vào trung tâm thành phố. Nhưng giờ đây nếu ai có hỏi, tôi sẽ thêm vào, trên mảnh đất nhỏ này còn có một nơi mà mỗi lần ghé qua là mỗi lần tim tôi thổn thức. Đó là Nhà Bảo Tàng Chiến Tranh Việt Nam, một nhà bảo tàng có tầm cỡ ở Bắc Cali nhưng người sáng lập lại là cậu bé mười tuổi.

Nhớ lại lần đầu tiên tôi đến Maysville nộp đơn xin việc. “Cái nhà” của tôi dạo này mắt mũi hơi kém nên khi nào chạy trên xa lộ tôi dành lấy phần lái xe “cho chắc ăn.” Không lái xe, nhưng ông ấy lại là người “lái tài xế,” ngồi bên cạnh điều khiển cái GPS, chỉ đường cho tôi chạy. Tôi nào phải là tài xế cự phách gì, chạy trên đường cao tốc tôi chỉ chăm chú “ôm cần lái,” chả dám nửa mắt nhìn vào cái “cục nợ” rắc rối ấy. Cho nên nếu ông không đi cùng, thì có…cho kẹo tôi cũng chẳng dám chạy xa một mình.

Theo “lệnh” của cái GPS, từ FreeWay 5 rẽ qua 99 rồi nhập vào xa lộ 70, tôi bỗng bàng hoàng xúc động khi nhìn thấy cánh đồng lúa bao la chín vàng rực rỡ dọc hai bên đường. Trong phút chốc, tôi tưởng mình đang chạy xe trên Quốc Lộ I, ngang qua cánh đồng lúa bên quê nhà. Không biết động lực nào từ trong tiềm thức thúc đẩy, tự nhiên tôi quẹo xe một cái rẹt, tấp vào lề đường rồi mở cửa bước xuống.

Nhà tôi có lẽ cùng tâm trạng, chẳng nói lời nào ông cũng bước xuống theo. Trước mắt chúng tôi là cánh đồng lúa bạt ngàn, từ hai bên xa lộ chạy tít tắp đến tận phía rừng cây. Trời đã gần trưa. Mặt trời đang xòe tay trọn vẹn phủ trùm ánh sáng rực rỡ chói chang lên trên cánh đồng, nhưng bầu không khí lại mát rười rượi, thơm lừng mùi lúa chín. Ôi! Hương lúa ngọt ngào. Những vé lúa no tròn óng ả gặp vài cơn gió thổi qua mơn man làm chúng lắc lư như đang cười nắc nẻ, hài lòng với sự sung mãn của tuổi chín muồi. Gió đi rồi, chúng lại oằn xuống cúi đầu như chào đón chúng tôi, những người khách có gốc gác đồng nội không mời mà đến. Tôi nhắm mắt, hít một hơi dài để tận hưởng mùi hương lúa mà ngỡ mình đang đứng trên mảnh đất của quê hương…

Tôi chợt hình dung ra tôi của ngày xưa, của thời kỳ đất nước thanh bình. Con bé mặc áo tím quần đen đầu đội thúng xôi nếp quạ với lon muối đậu phụng rang, chân đất chạy lúp xúp theo sau mẹ. Mẹ tôi gánh cái ấm đất lớn đầy nước cây “dúi dẻ” và nồi chè bánh canh rau đắng, thức ăn nửa buổi cho thợ gặt ruộng lúa của ngọai tôi. Đứng trên bờ, tôi thích thú nhìn bà con tay liềm tay hái, thi nhau thoăn thoắt cắt từng nạm lúa quằn tay rồi bó thành từng bó gọn gàng, trong khi miệng vẫn nói cười rôm rả. Tôi hình dung ra ngọai tôi đang khúm lúa chia công cho bà con. Lúc nào ngọai cũng chừa một đống lúa lớn hơn để người ta chọn. Sau khi họ chọn rồi, ngoại còn đùa thêm cho một mớ nữa. Vậy mà sau mùa gặt, cái lẫm lúa của ngoại vẫn đầy, vẫn cao lên tận nóc nhà. Mỗi khi cần xay gạo để ăn hoặc bán chi tiêu, ngọai phải bắt cái ghế cao cho tôi trèo vào xúc lúa giúp ngoại.

Tôi cũng hình dung ra thời kỳ chiến tranh tàn phá quê tôi. Hình dung ra cái cảnh ngoại tôi nước mắt chảy dài, đau đứt ruột nhìn lại lần cuối ngôi nhà ngói đỏ ba gian hai chái với dãy nhà ngang nhiều phòng mà bà và ông ngọai đã dày công tạo dựng, nhìn lại cái lẫm lúa tràn đầy trước khi ôm có mỗi cái hộp “Phú Ý” chứa đựng gia phả dòng họ nhà chồng, phía của ông tôi, một thân một mình chạy thoát khỏi ngôi làng bị chiếm vì cả gia đình đã trốn đi từ trước. Băng qua cánh đồng lúa, chạy khỏi những thửa ruộng nhà, khi lội qua cái đầm nước chảy, ngoại bị cuốn trôi. Dù tính mạng đang trong tình trạng thập phần nguy hiểm, ngoại vừa lặn hụp vừa bơi chỉ một tay, còn tay kia vẫn giữ khư khư cái hộp Phú Ý trên đầu cho khỏi ướt. Rất may có một người đi câu nhìn thấy chạy đến cứu giúp. Cuối cùng ngọai cũng mang được cái hộp ra thành phố để giao lại cho ông tôi.

Ngọai đã thành công trong chuyến “vượt biên” đầy nguy hiểm ấy, nhưng vì quá hãi hùng và bị nhiễm nước, ngọai mắc bệnh thương hàn sau đó và qua đời ở tuổi mới sáu mươi. Ngọai đã vĩnh viễn ra đi, nhưng gia phả họ Nguyễn thì còn đầy đủ đến tận bây giờ cho con cháu đời sau tường lãm. Mỗi lần đám giỗ họ, công trạng của nàng dâu là ngoại tôi đều được mọi người nhắc nhở, vinh danh.
- Lúa chín đều và đẹp như vầy chắc là thu họach sẽ cao lắm.
Nhà tôi đột nhiên lên tiếng, phá tan bầu không khí thiêng liêng đó của tôi. Tôi vội quẹt nhanh dòng lệ vừa trào ra trên khóe mắt rồi vội vã lên xe.

Xa lộ lúc này xe cộ chạy qua nườm nượp. Tôi lại là một tên “chết nhát” nên chẳng dám nhào ra. Đợi một hồi không thấy khá chút nào, tôi đành phải chạy từ từ dọc theo lề freeway chờ cơ hội. Tôi chạy một quãng khá xa, vẫn chưa ra được đến đường. Bỗng có tiếng “quéo…quéo…” ở đàng sau, tôi nhìn lên kính chiếu hậu và hoảng hồn thấy chiếc xe cảnh sát đang chớp đèn sáng lóe rượt đến. Chết cha rồi! Tôi đã chạy trong lề đường quá lâu, chuyến này chắc không tránh khỏi bị “ăn ticket.” Tôi dừng lại, hạ cửa kính xuống. Chuẩn bị tư thế để ký biên bản phạt.

Nhưng “còn nước còn tát”. Tôi bèn “mếu máo” với người cảnh sát, rằng đây là lần đầu tiên tôi đến Marysville để nộp đơn xin việc. Chạy ngang đây thấy cánh đồng lúa chín này rất giống cánh đồng quê tôi. Không cầm lòng được, tôi dừng lại ngắm một chút cho thỏa lòng mong nhớ. Không ngờ bây giờ xe cộ quá đông, tôi chưa dám chạy ra. Tôi chỉ nói cầu may. Thật bất ngờ, nghe tôi nói xong, ngài cảnh sát gật gù vẻ cảm động. Ông trở lại chiếc xe cảnh sát, lái ra lằn đường bên phải, cố tình “cản trở lưu thông,” ép xe cộ vẹt sang lane trái, và vẫy tay cho tôi chạy. Chúng tôi mừng quá xá! Ai nói mấy ông cò là những người khô khan tình cảm chứ? Ngày đầu đến đây, người cảnh sát thân thiện, nhân từ này đã cộng thêm một điểm tốt nữa cho việc chúng tôi dời về miền đất mới.

Đến mùa khai thuế, tôi lên mạng lục lọi và tìm thấy tổ chức “AARP Foundation Tax-Aid” ở Yuba đang giúp khai thuế miễn phí cho công dân từ 60 tuổi trở lên và những người có mức thu nhập giới hạn. Tổ chức này có chi nhánh khắp các tiểu bang. Tất cả thiện nguyện viên đều được huấn luyện kỹ càng không thua gì những chuyên viên khai thuế thực thụ. Tôi yên tâm gọi làm hẹn và chuẩn bị giấy tờ để đem đi.

Đúng hẹn, chúng tôi đến trung tâm và được một bà tên Mary Webb giúp. Sau khi xem giấy tờ, bà hỏi:

- Anh chị là người Việt Nam hả?
- Vâng! Sao bà đoán được? Bà có quen người Việt Nam nào không? Nhà tôi hỏi.
- “Oh yeah!” Bà cười. -Tôi và chồng tôi đều ở trong binh chủng Không Quân và đã từng phục vụ ở Việt Nam từ năm 70 đến 71.

- Ồ! Thú vị thật! Ông nói. -Tôi cũng từng là một chiến sĩ Không Quân, phục vụ tại phi trường Tân Sơn Nhất và phi trường Nha Trang cho đến 1975.
- “Really?” Bà Mary kêu lên, vẻ hớn hở như vừa gặp lại “cố nhân.”
Rồi bà vừa làm việc vừa trò chuyện với chúng tôi. Ngày đó bà phục vụ ở phi trường Tân Sơn Nhất, còn chồng bà, ông Austin Webb, làm cố vấn cho Không Quân Việt Nam Cộng Hòa ở phi trường Bình Thủy. Ông ấy không bị bắt buộc sang Việt Nam, nhưng vì vợ phục vụ bên đó nên ông tình nguyện đi theo. Bà Mary còn kể ngày đó bà có một người bạn Việt Nam rất thân tên Man (sau này tôi biết chị tên Mẫn). Sau chiến tranh thì mất liên lạc nhưng bất ngờ mấy chục năm sau hai người gặp lại trên đất Mỹ. -Chúng tôi mừng rỡ ôm nhau khóc! Chị ấy ở tận bên Utah, nhưng cũng đã đến thành phố này thăm tôi. Bà nói với giọng xúc động.

- Quả đất đúng thật tròn! Tôi nói, chúc mừng bà và người đồng hương mà tôi chưa hề quen. Lòng ngưỡng mộ tình bạn thâm sâu của họ, tôi thầm nghĩ sau này thế nào cũng phải tìm cách để làm quen với chị tên “Man” này mới được. Nhờ bà Mary giới thiệu, chúng tôi giờ đã quen nhau, chị Mẫn quả là một người bạn tuyệt vời, đáng để bà Mary nhớ đến hàng mấy chục năm.

Nhắc đến người bạn Việt Nam, bà Mary như sực nhớ ra, cho tay vào cái túi xách bên cạnh lấy ra một tấm danh thiếp màu xanh lá cây: – Này! Anh chị mới dọn đến đây mà có đi thăm “Nhà Bảo Tàng Chiến Tranh Việt Nam” chưa? Tôi trả lời chưa, bà nhét tấm danh thiếp vào tay tôi: – Anh chị cũng nên đi thăm! Đây là một nhà bảo tàng chiến tranh rất lớn mà người sáng lập Dann Spear, đã bắt đầu khi còn là một cậu bé. Tôi hiện cũng là thành viên trong ban Hội Đồng của nhà bảo tàng.

Bà Mary cho biết, hiện nhà bảo tàng đang có kế họach mở rộng thêm và kêu gọi mọi người hãy tiếp tay, đem tặng những kỷ vật chiến tranh, bất cứ cuộc chiến tranh nào mà Hoa Kỳ đã và đang tham gia, để giúp cho tài sản của nhà bảo tàng ngày càng thêm dồi dào phong phú.
- Có lẽ mình nên đến thăm và tặng chiếc xích lô cho nhà bảo tàng. Ông nhà tôi nói trên đường về. -Kỷ vật này nếu được trưng bày trong nhà bảo tàng sẽ có giá trị hơn là để ở nhà mình.
- Chiếc xích lô à? Tôi chợt nhớ đến chiếc xích lô hình mẫu bé tí có gắng hai lá cờ đang được ông nhà tôi trân trọng chưng trong tủ kính phòng khách nhà tôi.
Chiếc xích lô này do một bà khách Mỹ tên Hellen tặng khi chúng tôi còn tiệm nail. Bà là khách ruột rất thân, có việc gì cũng kể chúng tôi nghe. Mỗi năm đến ngày lễ Tạ Ơn, tôi làm cho bà chả giò, bà tặng chúng tôi ổ bánh mì chanh ngon tuyệt bà tự làm lấy bằng những trái chanh tươi trong vườn. Bà thường kể về Alan, người con trai độc nhất của bà từng tham chiến Việt Nam. Về sự bất mãn chán chường của anh sau khi trở về Mỹ. Bà nói ngày đó Alan và đồng đội của anh trở về đã không được chào đón như những anh hùng. Họ bị hất hủi, xem thường, vì ảnh hưởng bỡi những sự “làm rùm beng không đúng” của báo chí về cuộc chiến. Từ đó anh sống khép kín, thường tìm quên trong men rượu. Anh sống đời độc thân cho đến một ngày anh bị tai nạn xe và qua đời. Có lần bà Hellen nói:

- Hồi thời chiến tranh Việt Nam, tôi thật ghét cái bọn “ngồi mát ăn bát vàng” và bọn nhà báo tung tin “không đầu không đuôi” trong khi con tôi đang dấn thân vào súng đạn. Thằng Allan nói bọn chúng chỉ giỏi khua môi múa mỏ ở bên này chứ thật ra chúng chả biết cái đếch gì. Ai có đến Việt Nam, sống cùng người dân, và chiến đấu cùng những người lính Việt Nam Cộng Hòa thì mới biết rõ sự tình, mới biết cuộc chiến này có ý nghĩa ra sao. “Cuộc chiến mà chúng con không được quyền chiến đấu cho tới cùng để thắng mẹ ạ,” Alan nó nói vậy đấy!
Alan đã nói đúng. Tôi cũng từng nghe rất nhiều cựu chiến binh Việt Nam tôi quen nói như thế.

Cho đến cuối năm 2009 thì bà Hellen đã quá già, sức khỏe kém lại chuẩn bị đi mổ thận. Mấy ngày trước khi vào bệnh viện Kaiser, bà nhờ người y tá chăm sóc đặt biệt chở đến rồi đẩy vào tiệm tôi trên chiếc xe lăn. Trông bà rất yếu, thở hổn hển từ ống dưỡng khí được gắn vào mũi. Tôi nhìn bà và chợt sững sờ. Trên đôi bàn tay run rẩy của bà là một chiếc xích lô nhỏ xíu có gắng hai lá cờ, cờ Mỹ và cờ Việt Nam Cộng Hòa. Hai lá cờ giấy đã cũ sờn theo năm tháng với nhiều nếp gấp nhăn nheo. Lá cờ vàng ba sọc đỏ đã bạc màu bên góc trái và có một đường rách, nhưng được dán lại cẩn thận bằng miếng băng keo.

- Tôi sắp phải đi mổ thận, không biết lành dữ ra sao. Bà nói một cách khó nhọc. Những đường gân xanh trên cổ bà xê dịch liên hồi như thể muốn tách rời khỏi làn da tái mét. Bà đưa chiếc xích lô tí hon cho tôi:

- Chiếc “Pedi-cap” này là kỷ vật của thằng Alan để lại. Nó đã rất yêu quí và giữ gìn cẩn thận món đồ này cho đến ngày nó mất. Tôi sợ khi giải phẩu nếu lỡ có bề gì, đồ đạc của tôi bị đem bán “Estate sale” và nó sẽ lưu lạc. Bà dừng lại một lát để thở rồi nói tiếp: -Mới đầu tôi không biết phải làm gì với nó, nhưng rồi nhớ đến anh chị, tôi nghĩ anh chị là những người thích hợp nhất để tôi tặng lại món quà này. Làm ơn thay tôi giữ nó!

3_Tony

Bảng danh hiệu bảo tàng và Công viên có chiến cụ cũ kéo về từ VN.

Tôi đỡ lấy kỷ vật từ tay bà Hellen, rồi đứng mân mê lá cờ vàng cũ rách. Kỷ niệm nào từ chiếc xích lô nhỏ màu xanh có chiếc đệm đỏ này đã làm cho người cựu quân nhân Mỹ tên Alan trân quí nó đến như vậy nhỉ. Tôi còn tần ngần chưa dám hỏi thì bà Hellen đã nói:

- Đây là món quà từ người bạn Việt Nam rất thân với Alan. Anh ta đến Mỹ theo diện Humanitarian Offensive (HO), và bọn họ tình cờ gặp lại nhau. Chiếc “Pedi-cap” này anh ta mang theo từ Việt Nam, khi gặp lại Alan thì tặng cho nó. Nhưng anh ta đã chết sau đó vài năm vì bệnh họan do ở tù quá lâu trên rừng. Ngày Alan còn sống, tôi đến thăm nhiều lần bắt gặp nó ngồi lặng ngắm cái vật này bằng đôi mắt thật buồn. Do vậy mà tôi cất giữ nó bao nhiêu năm nay. Nhưng giờ thì tôi không được nữa rồi…

Bà nghẹn ngào, dừng lại nửa chừng. Tôi cũng rưng rưng. Trong tôi dâng lên một nỗi bồi hồi khó tả. Người HO đó, một sĩ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa xưa, khi rời bỏ quê hương đã mang theo chiếc xích lô. Có phải vì nó từng chuyên chở những nhọc nhằn, ngang trái, và bất hạnh của anh sau cuộc chiến? Hay anh muốn chở hết đi tất cả những đau khổ của đồng bào mình? Hoặc là anh muốn luôn nhìn thấy nó để nhớ lại thời kỳ, “Đầu đường Thiếu Tá vá xe/Cuối đường Đại Úy bán chè đậu đen” để cố gắng vươn lên? Chiếc xích lô chỉ là vật vô tri, nhưng khi tặng cho Alan người bạn Mỹ đã từng cùng chung chiến tuyến, anh đã làm cho nó trở nên có hồn và đầy ý nghĩa với hai lá cờ Mỹ, Việt. Và Alan, người bạn Mỹ của anh đã trân quí, gìn giữ cho đến tận cuối đời. Điều này cũng có nghĩa, Alan đã rất trân quí cái tình bạn, tình đồng đội và đồng minh từ cuộc chiến cho tự do mà anh và anh ấy đã từng tham gia.
- Xin bà hãy yên tâm. Tôi nói với bà Hellen. – Chúng tôi nhất định giữ kỹ món đồ này.
Và ông nhà tôi đã chưng chiếc xích lô trong tiệm từ đó cho đến khi chúng tôi bán tiệm mới mang về nhà. Nhớ đến đây tôi bèn nói với ông ấy:
- Phải rồi! Chúng ta nên đem nó tặng cho Nhà Bảo Tàng. Cất ở nhà mình cứ dọn nhà tới lui hoài có khi bị gãy hay thất lạc thì uổng công bà Hellen đã gửi gắm.
Về đến nhà, ông ấy lấy ngay chiếc xích lô ra lau bụi bặm. Đã hơn bốn năm rồi, từ ngày bà Hellen đem tặng và không bao giờ trở lại gặp chúng tôi lần nữa. Bà sống một mình không có người thân nên chúng tôi chẳng biết hỏi thăm ai về tình trạng của bà. Chiếc xích lô sau khi được lau xong nhìn sáng sủa, nhưng hai lá cờ giấy thì quá cũ kỹ. Tôi nói:

- Trước đây vì muốn giữ tình trạng nguyên thủy của món quà nên mình để y như vậy. Nhưng bây giờ đem đến Nhà Bảo Tàng nó sẽ ở đó thiên thu. Phải thay hai lá cờ vải mới bền lâu được. Cờ Mỹ rách người ta có thể thay lá khác, nhưng cờ vàng sau này rách đi thì làm sao?

Nhà tôi đồng ý. Tôi đến Walmart mua một lá cờ Mỹ bằng vải đem về. Nhưng lá cờ vàng không biết kiếm đâu ra. Thành phố chúng tôi ở chẳng có một cửa hiệu cửa hàng nào của người Việt cả. Ông ấy nói muốn mua cờ vàng ba sọc đỏ chỉ có nước đi San Jose hoặc là xuống Nam Cali, nhưng mình cần lá cờ bằng vải nhỏ xíu như thế này thì những nơi ấy cũng không dễ gì có bán. Cuối cùng, tôi quyết định phải tự tay may lá cờ này mới được. Nói là làm, chúng tôi rảo đi tìm mua vải. Nhưng kiếm hết từ Walmart đến Joann Fabrics chúng tôi cũng không tìm ra màu vàng và đỏ đúng màu cờ Việt Nam. Cuối cùng, tôi phải mua hai cuộn ruy-băng satin vàng và đỏ lọai lớn, dù chỉ cần có một đọan.

Về nhà, tôi ủi thẳng những nếp gấp của ruy-băng rồi hì hục cắt may. Tôi trưng dụng luôn ông xã làm thợ phụ, “lệnh” ổng chạy tới chạy lui, hết lấy kéo đến cầm bàn ũi, phụ lượt dính những sọc đỏ vào hai mặt của lá cờ. Đến khuya thì tác phẩm của chúng tôi cũng hoàn thành, lá cờ vàng ba sọc đỏ nhỏ xíu nhưng đẹp rực rỡ, sáng chói. Ông ấy thích quá đem gắn ngay vào chiếc xích lô và lấy máy hình ra chụp.

Qua những thông tin và tài liệu từ bà Mary, tôi tìm hiểu và biết thêm về lịch sử nhà bảo tàng trước khi đến viếng. Việc cậu bé tên Dann hình thành Nhà Bảo Tàng Chiến Tranh Việt Nam đã được cộng đồng Marysville và những vùng lân cận biết đến rộng rãi. Cậu bé thu thập kỷ vật và bắt đầu trưng bày bộ sưu tập về chiến tranh Việt Nam trong garage nhà cậu từ năm 1966. Lúc nào có dịp, là cậu “khăn gói” mang nó đi triển lãm khắp nơi, từ những bữa tiệc sinh nhật, họp mặt gia đình, đến club. Tấm lòng của cậu bé đến tai nhiều người, nhiều hội đoàn, và cậu được mời dự cuộc họp thường niên của các cựu chiến binh phi công Hoa Kỳ thời Đệ Nhị Thế Chiến. Tại cuộc họp mặt này, Dann được cựu tướng Không Quân nổi tiếng “Tex” Hill, một trong những con cọp bay “Flying Tigers” xuất sắc trong Thế Chiến thứ II, tặng một bức hình của ông với lời ghi chú, “Tặng Dann, người bạn nhỏ của tôi. Hy vọng tấm hình này sẽ làm phong phú thêm cho nhà bảo tàng tương lai của bạn.” Điều này cũng là một động lực rất lớn giúp cậu bé hoàn thành ước nguyện.

Khởi đầu, nó là một nhà bảo tàng tư nhân “tí hon” của cậu bé Dann. Năm 1977, Dann bắt đầu mang bộ sưu tập của mình đi xa hơn, lúc này cậu thu thập được khá nhiều kỷ vật của những chiến binh từ Việt Nam trở về, đem triển lãm tại các lễ hội truyền thống, hội chợ, triển lãm súng, căn cứ quân sự, cùng nhiều nhà bảo tàng chiến tranh khác.

Về sau Dann Spear và vợ, Roberta, đã tự vay tiền để xây dựng lớn thêm trên khu đất nhà của họ, không quyên góp hoặc nhận bất cứ ngân khỏan tài trợ nào từ hội đoàn hay chính phủ. Và đến năm 1985, mười năm sau chiến tranh Việt Nam, nhà bảo tàng trong mơ ước của cậu bé Dann được chính thức khánh thành ra mắt công chúng với bài nói chuyện của thiếu tướng Donald Mattson, giám đốc Viện Bảo Tàng Quân Đội Tiểu Bang California, người cũng đã từng tham chiến Việt Nam.
Điều đặc biệt, nhà bảo tàng tuyệt đối không hề thu lệ phí vào cửa. Mỗi khi có ai hỏi về việc này, Dann trả lời, “Đây là nhà bảo tàng của các cựu chiến binh và của các bạn, bạn không phải trả tiền!”
Đến nay thì nhà bảo tàng đã được phát triển rất qui mô, tiếp nhận gần sáu chục nghìn kỷ vật, kể cả những kỷ vật từ các cuộc chiến khác quân đội Mỹ tham gia, như Thế Chiến thứ I, thứ II, Nội Chiến, Triều Tiên, Iraq, Afghanistan… và xây một gian phòng hơn 6000 square feet dành riêng làm thư viện. Nhà Bảo Tàng giờ đây chính thức trở thành tổ chức bất vụ lợi, là di sản văn hóa của Bắc Cali, quản trị bởi một Ban Hội Đồng mà Dann Spear là giám đốc, được phép nhận quyên góp, gây quĩ để mở mang.

Nhà Bảo Tàng Chiến Tranh Việt Nam Marysville được xem là “Nhà bảo tàng của những chiến sĩ bị bỏ quên” (Museum of the Forgotten Warriors). Báo giới địa phương đã khen ngợi giám đốc Dann Spear, “Hình thành nhà bảo tàng này, Dann đã trả lại tên tuổi và mặt mũi cho các cựu chiến binh Việt Nam, những người đã từng bị bỏ quên sau cuộc chiến.”

Cuối tuần, chúng tôi rủ ông bạn hàng xóm tên Wayne, cũng là cựu chiến binh VN, đi thăm nhà bảo tàng. Nghe ông nói ở đó có bàn ghế picnic cho khách tham quan, tôi làm chả giò, cơm chiên, nướng một ít xúc xích, và mang theo trái cây, thức uống cho bữa trưa.

Nhà Bảo Tàng tọa lạc trên một khu đất rộng, thuộc vùng ngoại ô phía đông thành phố Marysville. Tấm bảng “VIETNAM-MUSEUM” trước cửa thì nhỏ, đơn giản, nhưng những chiếc Thiếc Giáp, Trực Thăng, Súng Cối, những chiến cụ khổng lồ đã từng một thời “khạc ra lửa, mửa ra khói” cùng với quân đội Việt Nam Cộng Hòa, đang nằm “an dưỡng” trong sân, xung quanh là những lá cờ Mỹ to đùng và cờ binh chủng đủ màu giăng khắp mọi nơi, đã nói lên tầm vóc to lớn của nhà bảo tàng.

Chúng tôi vừa đến cửa thì một người đàn ông ra chào đón rất niềm nỡ. Ông cho biết là hướng dẫn viên của nhà bảo tàng, tên Richard Sawyer, cũng là cựu chiến binh phục vụ tại Việt Nam từ năm 70-71. Ông nói “Tôi ở đây thường xuyên vì nó là cái nhà thứ hai của tôi!” Ông nhà tôi tỏ ý muốn gặp giám đốc Dann để tặng món quà. Thực ra thì tặng quà đâu cần phải gặp giám đốc, nhưng tôi vì tò mò muốn biết mặt “cậu bé Dann” rất nổi tiếng này ra sao nên đã dặn trước nhà tôi là “Không gặp ông Dann không về!” Trong khi chờ đợi gặp giám đốc, chúng tôi được ông Richard đưa đi tham quan khu vực Nhà Bảo Tàng Việt Nam. Ông bạn Wayne đã quá quen thuộc với nơi này nên ông ra thư viện để đọc sách.

Ông Richard cho biết, tất cả các phòng phía trước là Nhà Bảo Tàng Chiến Tranh Việt Nam nguyên thủy lúc khởi đầu. Những gian kế tiếp trưng bày kỷ vật của các cuộc chiến khác mà Hoa Kỳ tham gia. Theo chân ông Richard vào gian phòng đầu tiên, tôi bỗng lặng người khi nhìn thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ, cờ Việt Nam Cộng Hòa, thật lớn được lộng trong khung kính song song với lá cờ Mỹ đồng kích cỡ, và được đặt trang trọng trên kệ dãy tủ kính cao tận trần nhà. Bên trái khung ảnh treo cái phù hiệu tròn lớn có khắc hình một quân nhân bồng súng và bên phải treo chiếc áo giáp với hai mẫu tự “MP,” nhìn có vẻ như là chúng đang “hộ vệ” cho hai lá đại kỳ Việt Mỹ. Bên dưới khung hình đứng một hàng dài các cô gái búp bê xinh đẹp mặc áo dài đủ màu sắc, kiểu eo thon truyền thống Việt Nam ngày trước, nhiều cô đầu trần với những mái tóc đen dài bện thành hình con rết và vài cô đội nón lá nghiêng nghiêng. Một sự trưng bày trang trí độc đáo như nhắn nhủ với người xem, chiến tranh đã từng nhẫn tâm dày xéo trên đất nước của các cô gái mỹ miều này.

Tôi vừa đi vừa căng mắt nhìn dán vào những món đồ trong tủ kính, vừa chú ý đến những lời thuyết minh lưu loát của ông Richard, như thể những kỷ vật là của chính ông. Mỗi kỷ vật đều có sự tích riêng, từ món nhỏ nhất là chiếc huy hiệu, biểu tượng, sắc áo, màu cờ của các binh chủng Việt, Mỹ, cái vỏ chai bia Saigòn cao nghệu có hình cờ vàng ba sọc đỏ, đến bài báo tiếng Việt với bản tin “Chiến Thắng Quảng Ngãi” đăng tin “Liên Quân Việt Mỹ đã mở cuộc hành quân và đại thắng,” tất cả nói lên tấm lòng và lời nhắn gửi của các cựu chiến binh Việt Nam đã cất công mang về và gìn giữ chúng.

- Xem kìa! Nhà tôi bỗng kéo tay tôi, chỉ vào tấm hình một vị tướng Mỹ đeo sao có mấy hàng chữ đề tặng kề bên. -Đây là tướng William Westmoreland, vị tướng chỉ huy quân sự cuộc chiến Việt Nam ngày xưa!

Tôi bước lại gần, chưa kịp đọc những lời đề tặng thì nghe có tiếng người nói từ đàng sau:

“Yeah!” Tướng Westmoreland là “The Best,” người có biệt danh “đánh đâu thắng đó,” và ông đã từng nhiều lần đấu tranh đòi cung cấp thêm vũ khí đạn được cho các bạn đó!

Chúng tôi quay ra thấy một cựu quân nhân Mỹ đang cười toe, chỉ tay vào bức hình của ông tướng rồi đưa ngón cái làm dấu “number one!” À, thì ra là “lính cũ” của ông tướng. Richard giới thiệu đó là Don Schrader, người từng là cố vấn cho “Lực Lượng Đặc Biệt” tại nhiều căn cứ “MACV” khác nhau ở Việt Nam năm 65-66. Ông Don nói giám đốc Dann đang đợi ở văn phòng và kêu chúng tôi đi theo ông.

Một người đàn ông Á Châu bước ra khi chúng tôi vào. Giám đốc Dann ngồi trước một cái bàn dài chất ngổn ngan đầy những kỷ vật. Ông nói người đàn ông vừa rồi là người Hmong, đem tặng những kỷ vật từ cuộc chiến Việt Nam mà ông ấy từng tham dự. “Cậu bé Dann” mà tôi muốn gặp là một người đàn ông cao lớn, mặt đỏ hồng như tượng ngài Quan Công, nhưng nhìn rất hiền lành thân thiện. Tôi kể chuyện bà Mary giới thiệu, ông tỏ ra vui lắm. Nhà tôi lấy chiếc xích lô ra và nói:
- Đây là kỷ vật rất đặc biệt từ một cựu chiến binh Việt Nam, chúng tôi xin tặng lại cho nhà bảo tàng.
Ông Dann tròn mắt trầm trồ:
- Ô! “Excellent!” Chiếc “Pedi-cap” thật là tuyệt mỹ! Vừa rối rít cám ơn, ông vừa lấy ra tấm “note” nhỏ để chúng tôi đề tặng. Rồi ông kêu tôi trao kỷ vật tận tay ông và đưa máy hình cho nhà tôi chụp mấy tấm. – Chúng tôi phải luôn luôn chứng minh đó là món quà tặng thật sự. Ông nói.
“An vị” chiếc xích lô vào chỗ thâu nhận kỷ vật xong, ông Dann đích thân đưa chúng tôi trở lại xem nốt các phòng trưng bày về cuộc chiến Việt Nam. Đi ngang một dãy “Mannequin” người mẫu mặc quân phục, tôi chợt nhớ lại những gì bà Mary kể bèn hỏi ông Dann:
- Tôi nghe bà Mary nói ông đã bắt đầu cái ý tưởng thành lập nhà bảo tàng này lúc ông còn rất nhỏ, ông có thể kể chi tiết cho chúng tôi nghe được không?
Mặt người giám đốc vốn đã hồng hào giờ lại sáng tươi: -Theo tôi! Ông nói, và dẫn chúng tôi lại trước một chiếc tủ kính: -Năm 1965, khi tôi mười tuổi, tôi có viết thư cho một người bạn lớn tên Bill Buchroeder, thuộc đại đội I Bộ Binh đóng quân ở Dĩ An bên Việt Nam. Anh đang học cấp ba cùng trường với tôi thì bị tổng động viên và đưa sang Việt Nam đánh giặc. Bill đã hồi âm cho tôi từ chiến trường Việt Nam sau một trận đánh, và lá thư anh viết trên mặt sau của mảnh giấy chỉ dẫn cách xử dụng mìn “Claymore” đã làm tôi xúc động. Ông ngừng lại rồi mỉm cười, vẻ hãnh diện: -Và tôi chợt nảy ra ý định sưu tập những kỷ vật chiến tranh Việt Nam từ đó. Lá thư “lịch sử” này là một trong những kỷ vật đầu tiên của bộ sưu tập, của nhà bảo tàng này!

Nhìn mảnh giấy cũ kỹ, ố vàng trong khung kính với những dòng chữ nghuệch ngoạc mà tôi thấy nao lòng. Người quân nhân Mỹ tên Bill Buchroeder ấy đã cố gắng hồi âm, gửi lòng mình từ trận tuyến nửa vòng trái đất Việt Nam về cho người bạn nhỏ của mình trên một mảnh giấy loại, mà không kịp chờ về thành phố để có giấy bút đàng hoàng. Anh làm sao ngờ được, hành động nhỏ nhưng đầy tình cảm này đã tạo một ý tưởng lớn cho cậu bé Dann.
5_Nha-bao-tang

Hành lang tưởng niệm tử sĩ được bao quanh bằng hàng ngàn thẻ bài của những người lính đã gục ngã.

Ông Dann bỗng nhìn qua bên trái và nói, giọng đầy cảm xúc:

- Anh chị xem này! Ông chỉ vào một ống thủy tinh nhỏ chỉ bằng ngón tay út. -Tuýp đất này là của một cựu chiến binh tặng. Anh nói đó là kỷ vật quan trọng anh đem từ Nam về cất giữ mấy chục năm qua.

Tôi cảm thấy cổ mình nghèn nghẹn. Nam là tên gọi thân thương mà các cựu chiến binh Hoa Kỳ tôi quen biết thường dùng mỗi khi họ nhắc đến Việt Nam. Người lính này ắt hẳn đã có những kỷ niệm khó quên đối với Nam nên mới trân trọng nhúm đất đến như vậy. Kỷ niệm nào nằm trong tuýp đất màu nâu bé xíu đó hả anh? Có phải nó được trộn lẫn với máu và nước mắt của anh? Của bạn anh? Của những người lính Việt Nam Cộng Hòa anh dũng sát cánh chiến đấu cùng anh mà anh nể phục? Hay của đồng bào tôi, những người dân vô tội bị thương vì đạn bom mà anh đã từng cứu giúp? Có phải đó là nơi anh đã từng hò hẹn yêu thương một người con gái Việt Nam dịu hiền? Hay là nó chứa đựng sự đau lòng của anh vì nhiệm vụ chưa hoàn thành mà đành phải rời bỏ cái quê hương bé nhỏ nửa vời để giao miền đất tự do cho phương Bắc? Dù bất cứ đó là những kỷ niệm gì, cũng xin anh cho tôi được chia xẻ, được cám ơn anh. Không biết giờ này anh ở đâu. Ước gì tôi được gặp anh để bắt tay anh và nói một lời cám ơn. Nhìn thấy nhúm đất này tôi như thấy cả quê hương Việt Nam của tôi. Anh chỉ sống ở đó một thời gian ngắn mà khi rời xa anh còn lưu luyến đến thế này. Còn tôi, tôi đã được sinh ra và lớn lên ở đó với muôn vàn kỷ niệm. Anh biết là tôi đau lòng như thế nào khi rời bỏ nó, đúng không anh?

Đang miên man suy nghĩ, tôi giật mình nghe tiếng nhà tôi:
- Kìa! Đây là phù hiệu binh chủng Không Quân của tôi! ông nói với ông Dann, chỉ vào cái phù hiệu rồng bay “Tổ Quốc Không Gian” được đóng khung treo trong tủ kính, xung quanh quây quần bỡi nhiều huy chương và phù hiệu của các binh chủng quân lực Việt Nam Cộng Hòa. -Tôi đã phục vụ trong Không Quân cho đến ngày nền Cộng Hòa của chúng tôi bị mất. – Vậy sao? Ông Dann hỏi như reo lên: Thế anh có còn giữ được hình ảnh gì không? Chúng tôi cần sưu tầm thêm kỷ vật và hình ảnh của những người lính Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi có không nhiều lắm những kỷ vật về các chiến sĩ đồng minh từng chiến đấu chung với quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Tôi cười và góp lời: – Tôi còn giữ được vài tấm hình ông ấy mặc quân phục, chụp ở phi trường Nha Trang và Tân Sơn Nhất. Nhưng hồi đó ông ấy chỉ là một chuyên viên vô tuyến phi cơ. Ổng đâu có cấp bậc cao, đâu phải “quan quyền” chi mà đem hình ảnh đến đây để chưng, mắc cỡ chết!
“So what?” -Vậy thì đã sao? Ông Dann nhướng mày: -Không có lính thì làm sao có quan? Chúng tôi tôn trọng và vinh danh hết thảy các ban ngành, các cấp bậc. Tất cả mọi người trong quân đội đều liên quan với nhau như một guồng máy, thiếu một bộ phận máy sẽ không chạy được.Nếu anh chị copy và tặng cho viện bảo tàng vài tấm hình, chúng tôi sẽ quí lắm!

Nhà tôi hứa khi về sẽ sao lại vài tấm và gửi cho ông. Dạo hết khắp các phòng trưng bày về cuộc chiến Việt Nam thì ông Dann đưa chúng tôi ra phía sau. Chúng tôi bước theo, tưởng ông sẽ cho xem tòa nhà kế tiếp. Nhưng ra khỏi cửa sau đến khoảng trống giữa hai tòa nhà, ông dừng lại. Tôi nhìn sang bên trái thấy nhiều dãy thẻ bài kim khí, những thẻ bài trắng không tên, được treo dày đặc sát vách tường từ tòa nhà bên này vòng quanh qua tòa nhà bên kia thành hình chữ U. Chính giữa là cái bục xi măng thấp, trên đặt đôi giày bốt, một lá cờ Mỹ cắm rũ cạnh khẩu súng trường dựng đứng, bên trên là chiếc nón sắt, và một vòng hoa rực rỡ được treo trên thân của khẩu súng trường. Ông Dann bỗng đứng nghiêm, quay mặt về phía vòng hoa và đưa tay lên trán chào kiểu nhà binh. Nhà tôi cũng làm y như vậy. Riêng tôi thì đứng cúi đầu mặc niệm, lòng thầm nghĩ không biết có bao nhiêu thẻ bài ở đây nhỉ.

- Ở đây có tất cả là 6,297 thẻ bài, mỗi tấm thẻ tượng trưng cho một chiến sĩ Hoa Kỳ đã hy sinh ở Iraq và Afghanistan. Ông Dann chợt lên tiếng như đọc được ý nghĩ của tôi, làm tôi giật cả mình. Ông kể, đài Tưởng Niệm này được khánh thành hồi tháng 10 năm 2011, cùng lúc với lễ “Đổ Đất Thánh,” đất cát vàng nâu từ Iraq được rắc ở trung tâm đài cho linh hồn những quân nhân tử trận Iraq, và đá dăm màu xám từ Afghanistan đổ viền xung quanh dành cho anh linh tử sĩ hy sinh Afghanistan. Rồi ông nhìn chúng tôi: – Anh chị đã biết, cái giá chúng ta phải trả cho tự do là quá đắt. Trong mấy tháng trời, tôi cứ suy nghĩ phải làm một cái gì đó thật đặt biệt để vinh danh các chiến sĩ đã bỏ mình vì sự tự do của chúng ta, và tôi đã nghĩ ra ý tưởng thành lập đài tưởng niệm này. Anh chị có tin không? Ông chỉ tay vào những sợi dây: -Các phi công và chiến sĩ Không Quân từ phi trường Beale Airforce Base đã giúp treo số thẻ bài này, và mặc dù những sợi dây được gắn sẵn mấy nghìn tấm thẻ quá dài, chật vật lắm, nhưng họ làm rất cẩn thận, tỏ lòng tôn kính những linh hồn. Họ đã giữ kỹ, không hề để cho tấm thẻ bài nào chạm xuống đất lấy một lần! “Amazing!”

Tôi có cảm giác như mình sắp khóc trước tấm lòng yêu nước và biết ơn những tử sĩ hy sinh vì tự do của ông Dann. Tôi càng cảm động hơn về sự tôn kính đối với số thẻ bài tượng trưng cho các linh hồn chiến sĩ từ nhóm phi công làm thiện nguyện. Quả là những tấm lòng thật đáng ngưỡng mộ!

Chúng tôi đang chăm chú nghe ông Dann nói, đột nhiên có những âm thanh “leng keng” xào xạt phát ra từ những tấm thẻ bài, đồng thời nhiều ánh sáng nhấp nháy như những vì sao hiện ra dưới đất. Tôi còn sững sờ nhìn chăm chăm vào những ánh sao “lấp lánh giữa ban ngày” đó thì ông Dann reo lên:
- Ô kìa! Anh chị may mắn quá, đã đến đúng thời điểm! Không biết có phải linh hồn của các chiến sĩ đang chào đón chúng ta chăng? Hiện tượng này xảy ra lần đầu tiên trong ngày lễ khánh thành đài tưởng niệm. Về sau lâu lâu mới có một lần vào thời điểm khác nhau, những thẻ bài này rung động, nhấp nháy như ánh sao vậy đó. Ông rùng mình, đưa cánh tay ra: -Xem đây này! Mỗi lần như thế là chân lông tôi dựng đứng cả lên! Rồi ông nhìn lên trời: -Anh chị thấy đó. Trời lặng im không chút gió, vách tường của hai khu nhà cao vòi vọi, những tấm thẻ bài này được treo chỉ đến một nửa chiều cao của vách tường, bên trên có mái nhà nhô ra. Dù có mặt trời thì cũng không thể nào rọi vào chúng được huống chi là giờ này không thấy mặt trời đâu cả. Đây là một điều thật thần kỳ không hiểu nổi!
Tôi cũng rùng mình dựng chân lông. Tấm lòng của ông Dann hình như đã được linh hồn các tử sĩ nhận biết. Có phải họ đã cho thấy hiện tượng này để “vinh danh” ông Dann với chúng tôi chăng?Nhà tôi lật đật đưa máy hình lên bấm một cái. Tuy những ánh sao đó xuất hiện cả trên nền cát của hai bên, nhưng vì vội vàng ông ấy chỉ chụp được một phía và vẫn thấy rất rõ những ánh sao, phía bên phải hơi bị tối.

6_Tuong-Niem_041

Và bên trong khu trưng bầy kỷ vật thời chiến.

Vẫn còn bàng hoàng, tôi nói với ông Dann chúng tôi sẽ tự đi xem tiếp những phòng trưng bày khác sau khi ăn trưa. Tôi đem thức ăn bày ra ở bàn picnic rồi nhờ ông bạn Wayne vào mời ông Dann, ông Don, ông Richard ra để “thử món chả giò Việt Nam” với chúng tôi. Và tôi rất mừng vì các ông ấy nhận lời, tuy họ rất bận vì khách tham quan và người hiến tặng ra vô nườm nượp.

Chúng tôi vừa ăn vừa chuyện trò vui vẻ. Ông Dann làm thanh tra về ngành xây dựng, “Encroachment Inspector,” chuyên xem xét những việc xây dựng xâm lấn đất đai trái phép. Thời gian rảnh ông dành trọn cho nhà bảo tàng. Ông cho biết khi chiến tranh Việt Nam bắt đầu, tuổi ông còn quá nhỏ để tham gia, nhưng từ những tin tức của bạn bè lớn tuổi học cùng trường, Việt Nam đã là nỗi ám ảnh của ông.

Ông Dann cũng kể nhiều điều thú vị về việc thành lập nhà bảo tàng: -Tôi biết có nhiều kỷ vật chiến tranh Việt Nam giá trị đã bị bỏ quên đâu đó, trong nhà xe, trên gác, hay lẫn lộn trong đống hỗn tạp ở nhà kho, và rồi lâu ngày người ta sẽ quên chúng đi, thật là uổng phí! Theo ông, nhờ những kỷ vật này, những chiến binh Hoa Kỳ từng chiến đấu và chết cho cuộc chiến Việt Nam sẽ không bao giờ bị quên lãng như họ đã từng bị lãng quên trước đây. Ông nói điều làm ông đau lòng nhất là sau cuộc chiến, những chiến binh Hoa Kỳ đã trở về trong cô độc, không có người cảm thông cho sự khổ nhọc và hiểm nguy họ đã từng đương đầu. Ông thở dài: -Cuộc chiến đã chấm dứt từ lâu nhưng tôi có thể thấy niềm đau vẫn còn hiện rõ trong mắt các cựu chiến binh, và tôi biết vết thương trong lòng họ vẫn chưa lành hẳn!

Nhà Bảo Tàng được mở cửa vào tất cả các ngày thứ Bảy và các tối thứ Năm trong tháng, cộng với những ngày lễ lớn. “Nhưng ban quản trị cũng thường sắp xếp lịch để mở cửa cho những cuộc tham quan cả nhóm bất cứ lúc nào nếu họ gọi,” ông Dann cho biết. Khi tôi nói sẽ viết một bài giới thiệu nhà bảo tàng với cộng đồng Việt Nam, ông tỏ vẻ vui, nói sẽ cung cấp bất cứ thông tin mà tôi muốn biết. Ông đã làm thế thật. Trong bài này có nhiều chi tiết tôi phải email hỏi lại ông vì ngày hôm đó tôi không ghi chép kịp. Ông còn cho tôi vài tấm hình vì hình chúng tôi chụp cũng giống y chang nhưng không được đẹp lắm. Tôi nói đùa sẽ mời ông đến cộng đồng Việt Nam của tôi cho ông thuyết trình, hầu quảng bá thêm về nhà bảo tàng, khuyến khích cộng đồng tặng thêm kỷ vậy thì ông cười, “Đó cũng là một ý hay!”

Sau đó ông Don Schrader đưa chúng tôi vào thư viện, mở “Slide” cho xem số hình ảnh ông thu thập ở Việt Nam thời gian 65-66. Tôi ngạc nhiên đến lặng người khi nhìn lại quang cảnh núi đồi sông nước của Việt Nam thân yêu ngày xưa, sông Cửu Long, bãi biển Vũng Tàu, Nha Trang, miền đất đỏ Pleiku, bến cảng Vũng Rô, Sông Hương và cầu Tràng Tiền Huế… Những hình ảnh đẹp nguyên thủy khi chiến tranh chưa tàn phá mà từ lâu tôi đã ngỡ không bao giờ nhìn thấy nữa, giờ lại được xem qua tay một người Mỹ.

Chúng tôi còn đi xem các phòng trưng bày nhiều cuộc chiến khác mà Mỹ đã tham gia. Có những kỷ vật cổ nhất, lâu đời nhất như tấm chăn mà cụ cố của Đại Tá Galbraith đã dùng khi ông bị quân Anh bắt cầm tù trong cuộc chiến tranh Cách Mạng (Revolutional War) hồi Thế Kỷ thứ 18, đến viên gạch lấy từ tòa nhà mà quân đội Mỹ chiếm được trong một trận chiến săn lùng quân nổi dậy Taliban sau sự kiện 9-11 được Thượng Sĩ Roscoe Presley từ Afghanistan gửi về cho ông Dann, và những kỷ vật gần đây nhất là hình ảnh thư từ của các chiến binh Hoa Kỳ từ Iraq và Afghanistan gửi về. Quả thật nơi này có quá nhiều thứ, nhiều điều để xem, để nghiền ngẫm. Cuối cùng chúng tôi cũng phải ra về trong luyến tiếc. Nhà tôi từ đó mỗi khi nói chuyện với bạn bè đều khuyến khích họ đi thăm Nhà Bảo Tàng này.

Cậu bé Dann đã bắt đầu trang sử cuộc đời bằng một ý tưởng độc đáo. Việc chẳng dễ chút nào, nhưng nhờ vào ý chí lẫn niềm đam mê, cậu đã cùng với nó lớn lên và hoàn thành xuất sắc viết nên trang sử đó. Nhà Bảo Tàng Chiến Tranh Việt Nam Marysville là di sản văn hóa vô giá, là chứng cứ sống thực để minh họa cho những gì các sử gia ghi lại về cuộc chiến giữa Quốc Gia, Cộng Sản của người Việt và đồng minh Mỹ thời Việt Nam Cộng Hòa tự do, cũng như các cuộc chiến tranh khác của Hoa Kỳ. Nó là bản di chúc bằng vật thể các chiến binh để lại, chẳng những nhắc nhở giới trẻ Mỹ noi gương những chiến binh anh hùng của họ, mà còn giúp các thế hệ kế tiếp người Mỹ gốc nước ngoài hiểu biết về cội nguồn, về vì sao ông cha họ lại lưu lạc đến đất nước này.
Địa chỉ Vietnam Museum:
5865 A Road, Marysville, CA 95901-
Phone: (530) 742-3090

Phương Hoa

Posted in Uncategorized | Để lại phản hồi