Đảng thừa nhận đánh Mỹ là đánh cho TQ

 

xin bấm vào đây để tải xuống : cuốn sách ” SỰ THẬT VỀ MỐI QUAN HỆ VIỆT TRUNG TRONG 30 NĂM QUA ” – nxb SỰ THẬT, Hà Nội

Posted in Uncategorized | 5 phản hồi

Những điều gian trá của đảng CSVN về cái gọi là “di chúc” của Hồ

…..đất nước ta sẽ sang trang mới – không bị ma Hồ và quỉ cộng ám hại nữa mà cùng đứng lên đánh đuổi chúng đi, để không còn bóng dáng CS ma quỉ nào trên đất nước Việt Nam….

Những điều gian trá của đảng CSVN về cái gọi là “di chúc” của Hồ

Phan Châu Thành

- Mấy hôm nay trên các báo lề đảng rộ lên các bài ca ngợi cái gọi là “di chúc” của Hồ, thấy “chướng” quá nên tôi xin có mấy dòng vạch ra năm điều dối trá chính của CSVN liên quan di chúc Hồ để các bạn cùng góp ý thêm.

Điều gian trá thứ nhất: Sự chứng kiến của Duẩn?

Hồ để lại 3 bản di chúc dở dang viết vào tháng 5 các năm 1965, 1968 và 1969, và CSVN/Lê Duẩn đã chọn công bố bản di chúc 1965 “vì có chứng kiến của đồng chí TBT Lê Duẩn” Tạm bỏ qua chuyện di chúc sau phải có hiệu lực thay di chúc trước, chúng ta xem lại sự “chứng kiến” Hồ viết di chúc ngày 15 tháng 5 năm 1965 của Duẩn có thực không?

DichucHoChiMinh-LeDuan-Danlambao.jpg

Theo tài liệu lưu trữ của CSVN (1), Hồ viết di chúc lần đầu từ 10/5 đến 14/5/1965 rồi ngày 15/5/1965 Hồ đi thăm Trung quốc, như sau:

Trích lịch làm việc viết di chúc năm 1965 của Hồ:

40 năm thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh -Bản Di chúc của Bác viết năm 1965

12:53 | 09/06/2009
(ĐCSVN) – Năm 1965, khi tròn 75 tuổi, Bác Hồ bắt tay vào viết “Tuyệt đối bí mật” chúc. Lúc này, đồng bào và chiến sĩ cả nước đang sôi nổi thi đua lập thành tích chúc thọ Bác.
Từ ngày 10 đến ngày 14-5-1965, mỗi ngày Người dành từ một đến hai tiếng để viết và đã hoàn thành bản thảo Di chúc đầu tiên gồm 3 trang, do chính Người tự đánh máy, ở cuối đề ngày 15-5-1965.
Ngày 10-5, từ 9h đến 10h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu thảo tài liệu“Tuyệt đối bí mật” – Di chúc.
Ngày 11-5, từ 5h 45′ sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi tiễn đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Italia về nước. Sau đó từ 9h đến 10h, Người viết tiếp tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.
Ngày 12-5, từ 9h đến 10h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết tài liệu“Tuyệt đối bí mật”.
Ngày 13-5, từ 9h đến 10h sáng Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết tài liệu“Tuyệt đối bí mật”.
Ngày 14-5, sáng sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Hợp tác xã nông nghiệp Phương Đông (Từ Liêm, Hà Nội).
10h sáng, Người họp Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng bàn về công tác đào tạo cán bộ. Từ 14h đến 16h, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết phần cuối tài liệu“Tuyệt đối bí mật”.
18h, Người tiếp các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng đến chúc thọ Người.
Ngày 15-5, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội đi thăm Trung Quốc.
Vậy, Duẩn chứng kiến Hồ viết di chúc ngày 15/5/1965 như CSVN công bố, là khi nào? Ngày 14/5 Hồ đã viết xong và ngày 15/5/1969 thì Hồ “đi thăm Trung Quốc”

Trong khi đó, chính CSVN nói về việc công bố di chúc của Hồ như sau:

Trích Wikipedia (2), phần về di chúc Hồ:

“Tại cuộc họp bất thường Ban chấp hành Trung ương ngày 3 tháng 9 năm 1969, theo giới thiệu của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Vũ Kỳ báo cáo với Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, từ năm 1965, Hồ Chí Minh bắt đầu suy nghĩ và viết sẵn một số điều dặn lại cho toàn thể đảng viên và đồng bào của ông, phòng khi ông qua đời. Hồ Chí Minh dặn Vũ Kỳ, khi ông mất thì chuyển tài liệu này cho Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.
Ngày 9 tháng 9 năm 1969, tại Lễ truy điệu trọng thể Hồ Chí Minh, một phần những trang viết trong tài liệu tuyệt đối bí mật đã được những nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng Lao động Việt Nam công bố với tên gọi là “Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh“.

Như vậy, ngày 3/9/1969 Lê Duẩn mới nhận được “tài liệu tuyệt mật” ba bản di chúc của Hồ từ Vũ Kỳ, rồi từ đó Duẩn xào nấu, pha chế ra bản mà CSVN công bố chính thức ngày 9/9/1969, sau 6 ngày Duẩn “nghiên cứu sáng tác”, chọn lọc, sửa đổi, cắt xén, lắp ghép… và ký “chứng kiến” vào phần cuối bản di chúc Hồ viết năm 1965 mà Duẩn chọn…

Duẩn chỉ chứng kiến “sáng tác di chúc Hồ”, của chính mình, và ký nó trước ngày 9/9/1965 nhưng sau ngày 3/9/1965, tức sau khi Hồ chết, thì là Duẩn “chứng kiến” di chúc của Hồ sao?! Sic!

Điều gian trá thứ hai: Sự dối trá về thời gian Hồ chết – Và tại sao?

Hồ chết lúc 10 giờ 47 phút ngày 02/9/1969 nhưng CSVN đã đợi đến 3/9/1969 mới công bố (sau Hội nghị bất thương BCH TƯ ngày 03/9/69), và công bố rằng Hồ chết lúc 10 giờ 47 phút ngày 03/9/1969. Lý do của sự dối trá này: vì ngày 2/9 là ngày Quốc khánh VN.

Thế nhưng, 20 năm sau, ngày 19/8/1989, CSVN lại công bố ngày chết thật của Hồ? Tại sao vậy? Vì còn nhiều sự dối trá khác của CSVN về di chúc của Hồ mà họ không thể gian dối mãi. Bởi vì dấu diếm một sự gian dối của những kẻ khác vào năm 1969 (Lê Duẩn và Ban CHTW Khóa III) bằng sự gian dối khác của kẻ hậu sinh năm 1989 (Ban CH TƯ Khóa VI với Nguyễn Văn Linh), là việc khó. Nhất là, khi những kẻ hậu sinh của CSVN với BCH TW Khóa VI 1989 với Linh là TBT mới, đang muốn đưa Duẩn lên giàn thiêu tế thần cúng Trung Cộng ở Thành Đô 1990…

Kết luận ở đây là, CSVN không bao giờ quan tâm hay áy náy chuyện chúng có gian dối với dân hay thay đổi sự kiện lịch sử khách quan, mà chúng chỉ quan tâm việc sử dụng sự kiện cho lợi ích cầm quyền của chúng…

Điều gian trá thứ ba: Sự lựa chọn bản “di chúc cuối cùng” của Hồ

Việc CSVN (cụ thể là Duẩn, sau gần 1 tuần ngâm cứu) đã chọn bản di chúc năm 1965 của Hồ được Duẩn tủy tiện sửa đổi và thêm bớt bằng vài phần từ các bản di chúc của Hồ năm 1968 và 1969, và công bố đó là “di chúc cuối cùng” của Hồ, thể hiện họ bất chấp nguyên tắc cơ bản bất di bất dịch trong các văn bản di chúc là ước nguyện cuối cùng của “thân chủ” phải là ước nguyện được di chúc lại. Trong trường hợp của Hồ, đó là toàn bộ nội dung bản di chúc năm 1969 phải là ưu tiên số 1 để công bố, rồi đến di chúc năm 1968, đến các sửa đổi bổ sung năm 1967, rồi mới đến di chúc năm 1965 – những phần không được nói lại hay nói đến sau đó…

Tại sao họ làm thế? Chả lẽ họ không biết gì về nguyên tắc “ước nguyện cuối cùng” của người viết di chúc? Tất nhiên họ biết, nhưng là kẻ thừa kế Hồ, họ muốn có một bản di chúc thuận lợi nhất cho họ từ Hồ, tiếp tục giúp họ lừa bịp và dẫn dắt nửa dân tộc Việt bị lừa bịp vào cuộc nội chiến đẫm máu nhất lịch sử loài người thế kỷ 20, nên họ (mà cụ thể là Duẩn và Ban CH TW Khóa III) đã nhất trí bỏ qua “ước nguyện cuối cùng” của Hồ.

Điều gian trá thứ tư: Sự sự sửa đổi thô bạo, tùy tiện, coi thường tác giả vào nội dung di chúc

Luật thừa kế của bất cứ quốc gia nào cũng đều không công nhận một di chúc bị can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào nội dung, càng không bao giờ chấp nhận một di chúc bị sửa đổi thô bạo và tùy tiện một cách rất khinh thường tác giả như di chúc của Hồ bị CSVN thay đổi.

Cái gọi là “di chúc của Hồ” là một văn bản được CSVN xáo nấu, thay đổi, thêm bớt tùy tiện từ ba bản di chúc của Hồ sau khi Hồ chết, vì mục đích của CSVN dùng danh hão của Hồ và cơ hội dùng di chúc của Hồ… để tiếp tục lừa bịp dân đen đưa vào lửa đạn chiến tranh.

Tất nhiên, tôi hay bất kỳ ai đều có thể dành nguyên một hay vài bài viết cho các chi tiết lừa bịp thô thiển về nội dung cắt xén, sửa đổi, chắp ghép “tàn bạo” di chúc Hồ bởi Duẩn và Ban CH TƯ CSVN năm đó, để thấy chúng đã chà đạp thô thiển lên niềm tin ngu muội của dân Việt vào Hồ và lên chính “lãnh tụ” Hồ của chúng thế nào, nhưng để làm gì?

Điều gian trá thứ năm: Hoàn toàn không thực hiện theo mong muốn của Hồ trong di chúc…

Có rất nhiều điều, hầu như tất cả mọi điều, trong nội dung di chúc của Hồ đã không được CSVN tôn trọng và thực hiện từ 1969 đến nay, như từ điều đầu tiên Hồ nói về đảng phải đoàn kết đến điều cuối cùng Hồ nói về việc riêng muốn được hỏa táng… tất cả đều không được tôn trọng và thực hiện.

Hay như dân gian thường đùa, di chúc Hồ để lại là câu 9 chữ “Không có gì quí hơn độc lập tự do” thì sau 45 năm CSVN đã thực hiện được một phần ba, tức là “không có gì”…

Riêng về điều cuối cùng, tưởng chừng như nhỏ nhoi và linh thiêng của một con người với mong muốn cuối cùng cho riêng mình của Hồ là được hỏa táng, với tinh thần nghĩa tử là nghĩa tận của người Việt, thì việc thực thi tưởng chừng như rất dễ dàng, hợp lý hợp tình hợp lẽ, hợp điều kiện và văn hóa Việt, hợp cả lòng người nếu biết đó là mong muốn của Hồ, thì CSVN lại cố tình làm ngược lại bất chấp mọi khó khăn về vật chất nghèo nàn, kỹ thuật lạc hậu, điều kiện chiến tranh khó khăn của VN, để… ướp xác Hồ, từ đó.

Lý do: “để đồng bào miền Nam được chiêm ngưỡng Bác”! Không biết 45 năm qua đã có bao nhiêu “đồng bào miền Nam” ra “chiêm ngưỡng” xác khô dị dạng của Hồ? Nhưng chi phí mà CSVN đã bỏ ra cho cả một Bộ tư lệnh Lăng Hồ do một viên tướng phụ trách phụ trách, và cả một “binh chủng” mới được ra đời từ 1969 là binh chủng “Bộ đội Lăng” để phục vụ xác Hồ (dân gọi là bộ đội canh “ma” hay bộ đội “ma”…), cùng chi phí xây dựng lăng, bảo dưỡng lăng, tu bổ, trang điểm… xác Hồ suốt 45 năm qua phải rất là khủng khiếp… Chắc chắn, đó sẽ là chi phí nuôi một con ma đắt nhất – ma Hồ, trong lịch sử không chỉ dân Việt mà cả lịch sử loài người?!

Bỗng nhiên có một niềm an ủi xót xa: nhờ có những chi phí khổng lồ đó suốt gần nửa thế kỷ qua mà dân Việt ta vẫn có cái xác khô đó của Hồ để làm kiểm nghiệm ADN và xác nhận là Hồ không phải là người Việt – phá nát niềm tin mong manh của người dân hay cộng sản Việt cuối cùng còn tin Hồ là người Việt?!

Hay đó là chủ ý của Lê Duẩn và một số trong Ban CHTW đảng CSVN Khóa III? Chỉ biết, gần đây, báo đảng lại rộ lên mong muốn “thực hiện di chúc” Hồ, tức mang xác khô Hồ đi hỏa táng, vẫn là vì lý do “lý trấu” là “đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân ba miền Bắc Trung Nam” – mỗi nơi sẽ được một nắm… tro Hồ mà thờ cúng…

Có vẻ như, năm 1965-1969 Hồ nhận chỉ thị (từ Trung cộng, tất nhiên) là phải chết phi tang (tiêu xác), nên đã yêu cầu kiên quyết được hỏa táng, mà CSVN kiên quyết không chịu vì “quá yêu” Hồ. Nay, 45 năm sau, lại vẫn theo lệnh Tàu, CSVN phải tiếp tục hoàn tất việc phi tang (tiêu xác) Hồ – tức là “vì vẫn quá yêu Hồ” thì hãy thực hiện di chúc Hồ là hỏa xác…?

Chúng ta hãy chờ xem, cuối cùng thì CSVN sẽ làm gì với cái xác Hồ, vì thực chất đó chính là cái xác khô của chính cái đảng CSVN đó?!

Nếu còn “nó” – ma Hồ, dân ta nước ta còn đau khổ, còn đói nghèo, còn hèn nhục. Nếu nó được CSVN biến thành ba cái lăng tro khủng ở ba miền đất nước thì sự nhục nhã, khổ đau, hèn kém của dân Việt nước Việt sẽ còn tăng gấp ba, gấp mười, gấp vạn!

Nếu “nó” bị dân ta lôi ra trả về quê Tàu nhà nó thì dân ta sẽ/đã thoát nạn CS và ma Hồ rồi, đất nước ta sẽ sang trang mới – không bị ma Hồ và quỉ cộng ám hại nữa mà cùng đứng lên đánh đuổi chúng đi, để không còn bóng dáng CS ma quỉ nào trên đất nước Việt Nam!

Phan Châu Thành

__._,_.___

fpc.pl?ywarid=515FB27823A7407E&a=10001310322279&js=no&resp=img__,_._,___

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

Bác sống mãi trong quần

Bùi Bảo Trúc


To screw là một động từ khá lý thú trong tiếng Anh. Ðộng từ này gốc từ danh từ screw là con ốc xoáy. Vặn nó theo chiều kim đồng hồ thì nó đóng, nó tiến vào, nó kẹp dính liền hai vật lại với nhau. Vặn ngược thì nó mở ra…

Từ những nghĩa căn bản đó, động từ screw được cho mang thêm một nghĩa khác, là hành động giao hợp giữa nam và nữ. Rồi từ nghĩa đó, động từ screw còn có nghĩa là làm hư hỏng, gây thiệt hại, tạo ra những điều xấu xa, hậu quả không tốt đẹp …

Khi Tổng Thống Nixon dính vào vụ Watergate để cuối cùng phải từ chức, phe Dân Chủ liền đem chuyện bê bối đó ra để tấn công tiếp vào phe Cộng Hòa, đồng thời cũng bào chữa cho Tổng Thống Kennedy trong những vụ tình ái lăng nhăng bằng câu chơi chữ rất hay: We would rather him not do it to the country.

Ðại để nghĩa là người của chúng tôi (Kennedy) quả là có làm những chuyện ấy với một vài phụ nữ, nhưng thà ông ấy làm (screw) với phụ nữ còn hơn là làm chuyện đó (screw) với nước Mỹ.

Ông Kennedy hết với Marilyn Monroe, rồi Jayne Mansfield, Angie Dickinson và hàng chục phụ nữ khác. Nhưng theo phe Dân Chủ thì những chuyện đó có … chết ai đâu. Gần đây hơn, ông Clinton cũng mắt trước mắt sau, Hillary cứ vắng nhà một lúc là có chuyện ngay. Hết Paula Jones, tới Gennifer Flowers, rồi Monica Lewinsky…

Trong khi đó, mấy ông Cộng Hòa thì không biết làm ăn gì cả. Từ Eisenhower tới Nixon, rồi tới ông Reagan, qua ông Bush cha tới Bush con chẳng làm được gì đáng kể cả. Chỉ có ông Nixon là dính nặng vào vụ Watergate đến nỗi phải rời chức vụ trong nhục nhã.

Thế mới biết bác Hồ bảnh thật (người viết nhất định cố tình không viết hoa chữ “bác”).

Một người rất thân cận với bác, người từng viết tiểu sử cho bác, hay hơn là cuốn chính bác nham nhở viết về bác, dùng tên của Trần Dân Tiên (chính là bác chứ còn thằng chó dại nào nữa) là ông Trần Ðĩnh vừa tiết lộ nhiều chi tiết ít người biết về bác trong cuốn tự truyện của ông nhan đề “Ðèn Cù.”

Một trong những chi tiết đó xin được kể ra ở đây.

Ông Trần Ðĩnh cho biết để sửa soạn cho chiến dịch cải cách ruộng đất, trung ương mở một lớp chính huấn cho các trí thức trong cũng như ngoài đảng trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1953. Hồ Chí Minh có đến thăm những buổi học tập và liên hoan này , và trong một buổi tối, khi mọi người hô to “Bác Hồ muôn năm” thì ông ta sửa lại là “Bác Hồ muốn nằm,” và lấy tay chỉ vào đầu rồi nói, “Từ đây thì Bác già, nhưng từ đây (tay chỉ vào bụng) thì Bác trẻ.”

À như vậy là đồ đạc của bác còn tốt chán. Bác cũng đem đồ nghề ra dùng đều đều chứ nào phải bác vì nước vì dân quên những trò … vui đó như bọn đàn em vẫn lôi ra để bịp cả nước đâu.

Này nhé ở bên Tây, bác rửa bát về thì có một chị đầm cho bác ấm bụng. Sang Liên Xô thì bác có vợ của Lê Hồng Phong là chị Minh Khai xài đỡ. Chạy sang Trung quốc thì bác cưới Tăng Tuyết Minh. Về nước thì có mẹ của Nông Ðức Mạnh, rồi hết chị Tày này tới chị Tày khác, rồi lại chị Nông Thị Xuân đẻ cho bác thằng cu rồi bác để cho Trần Quốc Hoàn xái nhị mấy cái trước khi dàn cảnh cho xe cán chết quăng xác ra đê Yên Phụ…

Còn những vụ lẻ tẻ khác thì kể ra không hết. Trẻ không tha, già không thương, bác làm tuốt luốt. Các cháu nhi đồng gặp bác là bác “bú mồm” đến nơi đến chốn.

Quen thói, bác đi Indonesia, bác giở trò nỡm của mấy anh cộng sản ra ôm hôn các thiếu nữ Indonesia khiến chủ nhà phải nói thẳng với bác là đừng làm như thế nữa vì việc đó là hành động vi phạm luật Hồi Giáo (nhật báo The Strait Times số đề ngày 8 tháng 3 năm 1959). Một tờ báo khác, tờ Harian Habadi thì viết rằng giám đốc nghi lễ của bộ ngoại giao đáng lẽ đã phải nói nhỏ vào tai bác rằng bác nên tôn trọng tục lệ của người Hồi Giáo. Cũng may mà Sukarno tổng thống Indonesia cũng là một anh dê không kém chứ nếu không thì đã xảy ra một vụ incident diplomatique rồi chứ không đùa.

Như vậy, bác screw đủ thứ người, không tha bất cứ ai. Và bác screw cả đất nước của chúng ta chứ bác có tha ai đâu.

Bác làm như đứa nào cũng ngỏn ngoẻn rít lên với bác rằng, “Ðừng tha em đêm nay… đừng tha em đêm nay…” không bằng!

Mấy ông tổng thống Mỹ thì đã ăn thua gì!

__._,_.__

fpc.pl?ywarid=515FB27823A7407E&a=10001310322279&js=no&resp=img__,_._,___

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

Thanh Níu Áo Mỹ :Nguyễn Bá Thanh bèn sang Mỹ chữa b ệnh

Cô Tư Sài Gòn

Sau một thời vùng vẫy ở Đà Nẵng, rồi được đưa ra Hà Nội để “quét sạch tham nhũng,” bây giờ oải quá, ông Nguyễn Bá Thanh bèn sang Mỹ chữa bệnh.

Bệnh này là bệnh gì? Bệnh tâm hay bệnh thân? Hay là ông sợ bị tham nhũng ám sát?

Tại sao không sang Singapore chữa bệnh? Có phải vì sợ bàn tay nôi dài của Tổng Cục 2 sẽ thò qua bứt dây oxy của bệnh viện để chết sớm?

Hay vì ông đã từng thấy những cái chết bí ẩn của các quan chức CSVN ở các bệnh viện Việt Nam và Singapore mà sợ?

Tại sao ông sang Mỹ lặng lẽ?

Báo Tuổi Trẻ viết:

“Ông Nguyễn Bá Thanh đi Mỹ chữa bệnh

Ngày 29-8, ông Nguyễn Bá Cảnh, con trai ông Nguyễn Bá Thanh xác nhận ông Thanh hiện đang ở Mỹ để điều trị bệnh.

Theo nguồn tin của Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Bá Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, hiện đang chữa bệnh tại một trung tâm y tế hiện đại của Hoa Kỳ.

Việc chữa bệnh này đã báo cáo và được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền. Nguồn tin cho biết ngày 28-8, ông Nguyễn Bá Thanh điện thoại về nước trao đổi công việc bình thường.

Ngày 29-8, Tuổi Trẻ đã liên lạc với ông Nguyễn Bá Cảnh, con trai ông Nguyễn Bá Thanh và được biết ông Thanh hiện đang ở Mỹ để điều trị bệnh.

“Ba tôi được tổ chức cho phép nghỉ để đi điều trị cũng đã gần 2 tuần rồi”, ông Cảnh xác nhận.”(ngưng trích)

Đi Mỹ 2 tuần rồi? Lặng lẽ?

Bản tin RFA ghi nhận về Thanh níu áo Mỹ:

“Bệnh tình của ông Thanh không được tiết lộ nhưng có tin nói ông bị chứng rối loạn hồng cầu.

Được biết thông tin ngoài luồng ở Việt Nam ghi nhận sự vắng mặt của ông Nguyễn Bá Thanh trong 2 tuần qua. Nhiều lời đồn đoán ông Thanh lâm bệnh nặng và có thể đã qua đời.

Trong vai trò Phó trưởng ban thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng ông Nguyễn Bá Thanh được cho là có nhiều kẻ thù.

Theo giới quan sát chính trị ông Nguyễn Bá Thanh được mô tả là không nằm trong nhóm ảnh hưởng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Chính vì vậy ông đã không được đưa vào Bộ Chính trị, sau khi rời chức Bí thư Thành ủy Đà Nẵng để trở thành Trưởng Ban Nội chính Trung ương.”(ngưng trích)

Xin các bác sĩ góp ý giùm: có phải bệnh rối loạn hồng cầu có thể là do bị đầu độc lâu dài?
Không phải chuyện văn chương: rối loạn hồng cầu có nghĩa là chuyển máu đỏ (hồng-chuyên) để thành máu xanh (đôla Mỹ). Không phải thế.

Câu hỏi rất là khoa học: có phải ông Thanh bị đầu độc lâu dài bằng hóa chất nào đó, nên hồng cầu rối loạn?

Có khi, bệnh viện Mỹ cũng bó tay đấy nhé…

stime=1409586420
fpc.pl?ywarid=515FB27823A7407E&a=10001310322279&js=no&resp=img__,_._,___

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

VC dự trù vay một tỉ Mỹ kim để trả nợ + Người dân VN sẽ ra sao khi nhà nước vỡ nợ?

HÀ NỘI (NV) .- Viên Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ CSVN vừa chính thức xác nhận với báo giới về “dự định” vay một tỉ Mỹ kim thông qua chuyện phát hành trái phiếu để trả nợ.

Tuy phủ nhận trách nhiệm đối với chuyện nợ nần của các doanh nghiệp nhà nước nhưng những khoản nợ này vẫn tồn tại như các trái bom có thể nổ bất kỳ lúc nào. (Hình: VnEconomy)

Ông Nguyễn Văn Nên, Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Việt Nam, cho biết “dự định” vay một tỉ Mỹ kim thông qua chuyện phát hành trái phiếu để trả nợ sắp được đưa ra thảo luận trong nội các, vì Việt Nam đang nợ xấp xỉ một tỉ Mỹ kim với lãi suất cao. Việc vay một tỉ Mỹ kim thông qua chuyện phát hành trái phiếu để trả nợ không giúp giảm nợ nhưng sẽ giúp giảm lãi.

Nếu “dự định” vay như vừa kể được thực hiện thì đây là lần thứ ba trong vòng chín năm vừa qua, Việt Nam phát hành trái phiếu quốc tế. Năm 2005, lần đầu tiên Việt Nam phát hành trái phiếu quốc tế tại thị trường chứng khoán New York để vay 750 triệu Mỹ kim, với kỳ hạn 10 năm, lãi suất 7.125%/năm và phải trả cả nợ gốc lẫn lãi vào năm 2016.

750 triệu Mỹ kim này được giao cho Vinashin – một tập đoàn nhà nước. Vinashin vứt hết vào các dự án, kế hoạch vô bổ rồi phá sản nên chính quyền Việt Nam phải trả nợ thay.

Đến năm 2010, Việt Nam tiếp tục phát hành trái phiếu quốc tế tại Sở Giao dịch chứng khoán Singapore để vay 1 tỉ Mỹ kim với kỳ hạn 10 năm, lãi suất danh nghĩa 6.75%/năm. Khoản vay này tiếp tục được giao cho Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Điện lực và Vinalines… Nay Vinalines chẳng khác gì Vinashin.

Theo kế hoạch quản lý nợ trung hạn, giai đoạn 2013-2015, năm 2014, chế độ Hà Nội đã quyết định vay thêm 33,000 tỉ đồng và năm 2015, vay thêm 40,000 tỉ đồng để bù đắp bội chi ngân sách.

Các kế hoạch vay mượn của Việt Nam được giới thiệu song song với những cảnh báo của các chuyên gia kinh tế về nguy cơ vỡ nợ. Tháng trước, ông Trịnh Tiến Dũng, một chuyên gia kinh tế khẳng định, các doanh nghiệp nhà nước nợ “khủng khiếp” và chính quyền Việt Nam không thể phủ nhận đây là nợ của mình.

Ông Dũng là cựu Trợ lý của Trưởng Ban Cải cách khu vực công của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tại Việt Nam.

Hồi tháng 6 vừa qua, Bộ Tài chính CSVN công bố Báo cáo về sử dụng vốn vay, quản lý nợ công của chính quyền Việt Nam. Theo báo cáo vừa kể, tính đến hết năm ngoái, Việt Nam nợ 1,913 ngàn tỷ đồng, tương đương 53.4% GDP. Trong đó nợ của chính phủ Việt Nam là 1,488 tỷ ngàn tỷ đồng, tương đương 41.5% GDP.

Tính đến hết năm 2013, tổng số dự án được chính phủ Việt Nam bảo lãnh để vay là 104 dự án, trong đó có 23 dự án đã trả xong nợ. Riêng năm ngoái, chế độ Hà Nội bảo lãnh cho 8 dự án vay 3,161 triệu USD từ các tổ chức tín dụng ngoại quốc hoặc phát hành trái phiếu quốc tế.

Cả Bộ Tài chính lẫn nhà cầm quyền CSVN liên tục khẳng định, những khoản nợ khác của các doanh nghiệp nhà nước không thể xem là nợ của chính quyền. Các doanh nghiệp nhà nước tự vay và tự trả.

Nhiều chuyên gia kinh tế khẳng định đó là một kiểu ngụy biện. Chính quyền Việt Nam ngụy biện như thế để trấn an mọi người rằng, nợ nần của chính quyền Việt Nam chưa vượt quá mức 65% GDP. Theo khuyến cáo của nhiều tổ chức quốc tế, nếu nợ nần vượt quá mức 65% GDP thì an ninh tài chính quốc gia không còn an toàn.

Theo ông Dũng, dù những khoản vay của các doanh nghiệp nhà nước được chính quyền Việt Nam bảo lãnh rồi được gộp vào khối nợ chung của chính quyển, chỉ chừng 4.2% đến 6.9% tổng nợ quốc gia nhưng tỷ lệ đó không phản ánh đúng thực chất nợ nần và thực tế vay – trả.

Tại một cuộc hội thảo về nợ công hồi tháng trước, ông Dũng đưa ra nhiều dẫn chứng để bác bỏ lập luận, các doanh nghiệp nhà nước tự vay và tự trả nợ. Nợ của các doanh nghiệp nhà nước không liên quan đến nợ nần của chình quyền.

Ví dụ rõ ràng nhất là trường hợp Vinashin. Năm 2009, tập đoàn nhà nước này phá sản và để lại khoản nợ 89,000 tỉ đồng, tương đương 52% GDP của năm 2009. Sau đó, nhà cầm quyền CSVN đã tổ chức chuyển nợ của Vinashin cho Vinalines và Petro Vietnam, bổ sung vốn, khoanh nợ,… Tuy Vinashin “tự vay” nhưng rõ ràng trả là do nhà cầm quyền CSVN, kể cả phát hành trái phiếu để bù đắp và vì thế khiến ngân sách thâm thủng.

Không riêng ông Dũng, hai ông Phạm Thế Anh và Đinh Tuấn Minh cũng đã sử dụng nhiều số liệu để chứng minh rằng, tổng các khoản nợ của hệ thống doanh nghiệp nhà nước đã vay mà không được nhà cầm quyền CSVN bảo lãnh, nên không được kể là nợ công, tương đương 40.9% GDP.

Nếu tính đúng, tính đủ, cộng cả nợ nần chính thức lẫn nợ nần của hệ thống doanh nghiệp nhà nước, những khoản chưa thanh toán khi thực hiện các công trình hạ tầng, nợ nần của chính quyền Việt Nam hiện nay xấp xỉ 98.2% GDP.

Hai ông Phạm Thế Anh và Đinh Tuấn Minh khẳng định, các khoản vay ngoại quốc, vay các ngân hàng trong nước, vay lẫn nhau của hệ thống doanh nghiệp nhà nước, dù không được chế độ Hà Nội bảo lãnh vẫn đe dọa an ninh tài chính quốc gia.

Nếu không muốn những quả bom này phát nổ, việc cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa những doanh nghiệp này phải “triệt để”, không thể “hình thức” nhưng thực tế cho thấy, đến nay, cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa những doanh nghiệp này vẫn như trò đùa. (G.Đ)

===

Người dân VN sẽ ra sao khi nhà nước vỡ nợ ?

…Người dân Việt Nam đã thờ ơ và né tránh chuyện chính trị, giao phó cuộc sống của mình cho “đảng và nhà nước” nên hậu quả từ cuộc khủng hoảng này người dân phải tự gánh chịu. Phong trào dân chủ đối lập có muốn giúp cũng không làm gì được…”

vuckinhtetroday

Trong bài viết Ba tháng mất một tỉ đôla, bao giờ Việt Nam vỡ nợ?, qua ý kiến của các chuyên gia Việt Nam trong nước, chúng tôi đã phân tích rằng tình hình kinh tế của Việt Nam là rất nguy ngập vì nhà nước Việt Nam có nguy cơ …vỡ nợ rất cao. Thật ra điều này cũng không có gì là bí mật và khó đoán. Nền kinh tế Việt Nam vận hành theo kiểu …không giống ai, kinh tế thị trường không ra kinh tế thị trường, kinh tế bao cấp không ra kinh tế bao cấp. Nó giống với nền kinh tế tư bản hoang dã cách đây hơn 100 năm về trước. Kẻ mạnh, tức là các phe nhóm lợi ích và thân tộc của giới quan chức Việt Nam tha hồ làm mưa làm gió và lũng đoạn hoàn toàn nền kinh tế Việt Nam.

Đã có người đặt câu hỏi rằng tại sao đảng cộng sản Việt Nam vẫn có thể tồn tại đến bây giờ? Họ lấy đâu ra tiền để trả lương cho cán bộ công nhân viên chức nhà nước cũng như giới quân đội và công an? Ai cũng biết là Việt Nam có đến hai bộ máy cầm quyền song trùng, một bên là chính quyền và một bên là đảng. Bên chính quyền có cơ quan nào thì bên đảng cũng có cơ quan đấy, cũng hưởng lương ngân sách và có bộ máy nhân sự như nhau. Chỉ khác mỗi điều là nếu có chuyện gì xảy ra thì chỉ bên chính quyền chịu tội còn bên đảng thì vô can vì đảng chỉ “chỉ đạo” chung chứ không làm gì cụ thể.

Rõ ràng là thắc mắc này rất có lý vì ai cũng thấy lạ là không hiểu đảng lấy đâu ra tiền để trả lương cho bộ máy công chức cồng kềnh vào loại nhất thế giới như vậy. Đầu tiên ai cũng hiểu, tiền chi trả lương và các khoản chi cho đầu tư công đều lấy từ ngân sách nhà nước, tức là từ tiền đóng thuế của nhân dân. Và ai cũng biết là tiền thuế thu được từ các hoạt động kinh doanh của người dân Việt Nam rất hạn chế vì vấn nạn tham nhũng. Thay vì nộp thuế các công ty nộp tiền cho các quan tham, và đương nhiên các khoản tiền đóng thuế đen (hụi chết) cho quan chức tham nhũng phải ít hơn rất nhiều so với số tiền phải nộp vào cục thuế. Việc các công ty khổng lồ FDI như Metro, Coca-cola, Toyota …kinh doanh tại Việt Nam hàng chục năm qua không đóng một đồng tiền thuế nào là bằng chứng cho sự đi đêm và tham nhũng kinh khủng của quan chức Việt Nam.

Khi ngân sách thâm thủng vì chi nhiều hơn thu do vấn nạn tham nhũng thì nhà nước sẽ lấy gì để chi trả lương? Dễ làm nhất đó là trả lương cho cán bộ công chức rất thấp, chỉ tượng trưng là chính và sau đó là tạo ra cơ chế để cán bộ công chức nhà nước tham nhũng, vòi vĩnh và trấn lột của người dân. Dù Việt Nam là nhà nước xã hội chủ nghĩa, trên lý thuyết đó là nhà nước “của dân, do dân và vì dân”, việc học hành hay chăm sóc y tế đều không mất tiền nhưng thực tế thì đi thang máy hay toa-lét trong bệnh viện cũng phải trả tiền. Người dân Việt Nam phải mất tiền cho quan chức, dù là cấp xã để xin một con dấu chứng thực việc gì đó. Và gánh nặng ngân sách lớn nhất của chính quyền Việt Nam đó là chi trả lương cho khối quân đội và công an. Đây là hai thành phần được ưu tiên đặc biệt vì vai trò quan trọng của họ trong việc đảm bảo sự ổn định và bình yên cho đảng và chính quyền (chứ không phải cho người dân). Lương của họ rất cao, vì để mua chuộc lòng trung thành của họ, nhà nước trả lương cho họ rất hậu hĩ. Cấp tá về hưu có thể nhận lương hàng chục triệu đồng mỗi tháng, trong khi người công nhân làm tối mặt trong nhà máy lương chỉ vài ba triệu. Không đủ sống và lo cho gia đình mình. Vì bổng lộc rất cao đó nên ông đại tá-giáo sư Trần Đăng Thanh trong một cuộc nói chuyện với các giáo viên khối đại học cao đẳng đã đem cuốn sổ hưu ra để dọa rằng nếu không còn đảng thì họ sẽ không có “sổ hưu”. Thật ra số tiền lương mà những người này nhận được nhiều hơn những người khác là do chính quyền bớt xén từ đồng lương còm cõi của chính con em họ. Có một câu chuyện vui rằng, một ông trọc phú, trời nắng, đi thăm đồng về mồ hôi nhễ nhại liền gọi anh đầy tớ quạt cho mát. Sau một hồi lâu ông trọc phú hết mồ hôi và cười nói với anh đày tớ rằng: “Hay thật, mồ hôi của mình đi đâu hết rồi nhỉ?” Anh đầy tớ lễ phép: “Thưa ông, mồ hôi của ông đã chạy hết sang người con rồi ạ”. Như vậy, những người không làm gì mà tự nhiên lương cao hơn người khác phải hiểu rằng tiền đó là lấy từ tiền mồ hôi nước mắt của người khác, của chính con cháu mình chứ không phải do lòng tốt của nhà nước. Nên nhớ nhà nước không làm gì ra tiền cả.

Ngay cả trong trường hợp nhà nước bớt xén tiền của người dân thấp cổ bé họng là công nhân và nông dân để trả lương cao cho quân đội và công an thì liệu có đủ không? Chắc chắn là không vì người nông dân và công nhân Việt Nam bị giới chủ bóc lột đến tối đa rồi còn đâu để chính quyền nắn bóp tiếp. Vậy nhà nước lấy đâu ra tiền để chi trả? Xin thưa đó là tiền bán tài nguyên của đất nước. Không phải tự nhiên mà chính quyền khăng khăng cho Trung Quốc khai thác Bô-xít ở Tây Nguyên hay cho thuê rừng đầu nguồn mười tỉnh biên giới hay bán đất cho Formosa Hà Tĩnh lên đến 70 năm… Nhà nước sẽ bán tất tật những gì có thể bán được và đối tác quan trọng nhất trong vụ mua bán này là Trung Quốc. Đừng lấy làm lạ khi người Việt thất nghiệp tràn lan, phải tha phương cầu thực mà sắp tới mười vạn công nhân Trung Quốc sẽ sang Vũng Áng làm việc. Người dân Việt Nam cũng đừng thắc mắc vì sao chính quyền không kiện Trung Quốc ra các tòa án quốc tế sau khi Trung Quốc ngang ngược đặt giàn khoan HD-981 vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam. Ủy viên bộ chính trị Lê Hồng Anh sang Trung Quốc làm dịu tình hình để làm gì? …Câu trả lời đã được Chuẩn đô đốc Lê Quế Lâm bật mí trong cuộc tiếp xúc của ông chủ tịch Trương Tấn Sang với cử tri TP HCM rằng Trung Quốc đã hứa cho Việt Nam vay 20 tỉ đôla ODA và 100 tỉ đôla tín dụng. Đây là miếng mồi và cũng là thòng lọng đang buộc vào cổ chính quyền lẫn nhân dân Việt Nam.

Một lý do nghiêm trọng khiến ngân sách Việt Nam thất thu đó là thời gian qua đã có hàng trăm ngàn công ty tư nhân vỡ nợ và phá sản. Người lao động bị thất nghiệp và ngân sách nhà nước thì thất thu. Tất cả đều vì chính sách ưu đãi quá đáng của chính quyền dành cho khối doanh nghiệp nhà nước và FDI. Các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam vừa nhỏ, vừa yếu lại bị chèn ép và cạnh tranh không lành mạnh nên đã nhanh chóng đổ vỡ. Bong bóng bất động sản cũng góp một phần không nhỏ vào núi nợ xấu của các ngân hàng khiến dòng tín dụng dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị bế tắc dẫn đến sự phá sản hàng loạt các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua.

Sỡ dĩ chính quyền Việt Nam vẫn có thể chống chọi được với thời gian cũng nhờ một phần lớn vào tiền vay mượn của nước ngoài (nợ công). Đáng lẽ số tiền này là để đầu tư cho các công trình cơ sở hạ tầng như giao thông, điện, nước, cảng, biển, nhà máy và phục vụ các công trình dân sinh để tạo động lực cho sự phát triển bền vững. Thế nhưng số tiền này đã không được dùng đúng mục đích và bị thất thoát nghiêm trọng do nạn tham nhũng, nhất là trong đầu tư công. Hiện tại nhà nước Việt Nam đã phải đi vay nợ để trả nợ, đây là một sự việc rất không bình thường, nguy cơ vỡ nợ là điều không thể tránh khỏi

Một người, với một kiến thức sơ đẳng về kinh tế cũng có thể biết rằng trong một gia đình, một công ty hay một quốc gia cũng đều vậy cả, khi thu không đủ chi thì sự phá sản là điều đương nhiên và sự vô lý này không thể kéo dài mãi được. Vậy nếu nhà nước Việt Nam phá sản thì cuộc sống người dân sẽ ra sao? Có lẽ đến giờ này người dân Việt Nam vẫn chưa hình dung ra được sự nghiêm trọng của vấn đề. Người dân quê thì cho rằng sống khổ thể này là hết mức rồi không thể khổ hơn được nữa. Người dân thành phố đặc biệt là Hà Nội và TP HCM thì vẫn vô tư. Buổi tối các quán nhậu vẫn chật cứng người và rượi bia vẫn chảy tràn như suối. Đa số đều tin rằng kiểu gì nhà nước cũng phải giữ sự ổn định và sẽ không có gì xảy ra vì mọi chuyện đã có “đảng và nước lo” rồi …Vậy sự thực là như thế nào?

Nếu nhà nước vỡ nợ thì hệ lụy đầu tiên là các Quĩ Bảo hiểm xã hội, tức là Quĩ Hưu trí sẽ vỡ theo vì tiền của Quĩ Hưu trí “chủ yếu cho ngân sách nhà nước vay và mua trái phiếu chính phủ”. Những người hưu trí sẽ không còn nhận được lương nữa. Khi khủng hoảng xảy ra thì trái phiếu nhà nước và đồng nội tệ chỉ còn là mớ giấy lộn, giá đôla sẽ không còn nằm ở 21.000VNĐ đổi một đôla mà có thể là 30-40.000VNĐ đổi một đôla, thậm chí cao hơn nữa. Tiền của người dân gửi trong ngân hàng sẽ mất giá rất nặng so với đôla. Ai đã từng ở Nga hồi năm 1991 khi Liên xô sụp đổ đều biết đồng rúp Nga đã mất giá kinh khủng như thế nào, dù chính quyền đã cố gắng bằng mọi cách giữ ổn định. Giá cả hàng hóa đều tăng vọt do đồng nội tệ mất giá. Dù giá cao nhưng nạn khan hiếm hàng hóa sẽ xảy ra trên diện rộng với cả những mặt hàng thiết yếu và đơn giản như gạo, mắm, muối …Đời sống của người dân sẽ bị đảo lộn hoàn toàn do hầu hết các nhà máy, xí nghiệp đều đóng cửa. Lạm phát sẽ tăng cao chưa từng có vì nhà nước tiếp tục in thêm tiền. Mọi sự buôn bán hay giao thương đều đình đốn do tỉ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ biến động lớn và nhà nước không thể kiểm soát nổi. Người dân nghèo Việt Nam sẽ bị dồn vào đường cùng, nạn trộm cướp sẽ diễn ra công khai và trắng trợn…

Dù chúng tôi không hề muốn điều này xảy ra nhưng rồi nó vẫn phải xảy ra vì đây là sự điều chỉnh của kinh tế thị trường và là qui luật của cuộc sống. Cái gì phù hợp sẽ tiếp tục phát triển cái gì vô lý sẽ phải kết thúc. Và cũng chỉ khi đó thì người dân Việt Nam mới nhớ đến …chúng tôi, những người dân chủ đối lập. Suốt 30 năm qua chúng tôi đã cố gắng làm tất cả những gì có thể, để vận động người dân và trí thức Việt Nam tham gia và ủng hộ cho phong trào đối lập dân chủ nhằm chuyển hóa Việt Nam về hướng dân chủ, để khủng hoảng không xảy ra …Nhưng chúng tôi vẫn chưa thành công vì gặp phải bức tường tâm lý quá lớn đó là sự bất lực của giới trí thức và sự thờ ơ, vô cảm của người dân.

Người dân Việt Nam đã thờ ơ và né tránh chuyện chính trị, giao phó cuộc sống của mình cho “đảng và nhà nước” nên hậu quả từ cuộc khủng hoảng này người dân phải tự gánh chịu. Phong trào dân chủ đối lập có muốn giúp cũng không làm gì được. Lời khuyên duy nhất mà chúng tôi có được trong lúc này là người dân nên dự trữ một ít tiền ngoại tệ và vàng trong nhà để phòng thân khi khủng hoảng xảy ra…

Việt Hoàng

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận